Ngày 30/6/2026, Quảng Ninh công bố hàng loạt quy hoạch quan trọng, gồm Điều chỉnh Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075; Quy hoạch chung Khu kinh tế ven biển Quảng Yên; Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn; đồng thời công bố Quảng Ninh là đô thị loại I.
Các quy hoạch tạo cơ sở để tổ chức lại không gian phát triển trên quy mô toàn thành phố, gắn các khu vực có chức năng khác nhau trong một hệ thống chung. Trong đó, Khu kinh tế ven biển Quảng Yên, Khu kinh tế Vân Đồn, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, hệ thống cảng biển, cửa khẩu và mạng lưới giao thông giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc phát triển mới.
Quảng Ninh có lợi thế đặc thù khi vừa có biên giới trên bộ với Trung Quốc, vừa có không gian biển rộng, hệ thống cảng biển, cửa khẩu quốc tế và kết nối trực tiếp với các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc. Đây là nền tảng để thành phố phát triển đồng thời các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, logistics, du lịch và kinh tế biển. Quảng Ninh cũng xác định hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ là một trong những nền tảng quan trọng giúp mở rộng không gian phát triển và tăng cường liên kết vùng.
Trên không gian mới, từng khu vực được định hướng phát huy những lợi thế riêng, đồng thời tăng cường liên kết với các khu vực khác. Hạ Long giữ vai trò trung tâm đô thị, dịch vụ và du lịch; Quảng Yên có điều kiện phát triển công nghiệp, cảng biển và logistics; Vân Đồn gắn với kinh tế biển, du lịch và dịch vụ; Móng Cái giữ vai trò cửa ngõ giao thương với Trung Quốc; khu vực Yên Tử phát huy giá trị di sản, văn hóa và du lịch. Mặc dù phân định về chức năng nhưng các khu vực không phát triển độc lập mà được đặt trong mục tiêu hình thành các chuỗi liên kết giữa đô thị với công nghiệp, công nghiệp với cảng biển và logistics, du lịch với giao thông và dịch vụ, thương mại biên giới với hệ thống kho bãi, vận tải và các dịch vụ hỗ trợ.
Cùng với đó, Cầu Bến Rừng tăng cường kết nối Quảng Ninh với Hải Phòng, tạo thuận lợi cho lưu chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, lao động và dịch vụ, đồng thời mở rộng không gian kinh tế về phía Tây và kết nối sâu hơn với mạng lưới giao thông của vùng. Từ không gian hành chính mới, hệ thống quy hoạch được tích hợp và hạ tầng từng bước hoàn thiện, Quảng Ninh có thêm điều kiện tổ chức phát triển theo hướng liên kết giữa các khu vực và mở rộng kết nối với các địa phương trong vùng, qua đó tạo nền tảng để xây dựng Thành phố Quảng Ninh trở thành đô thị biển, biên giới, di sản và thông minh, có vai trò kết nối vùng.
Nếu quy hoạch tạo khung cho không gian phát triển thì hạ tầng giao thông là yếu tố trực tiếp kết nối các không gian đó. Những năm qua, Quảng Ninh đã hình thành trục cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, cùng hệ thống đường ven biển, cảng biển, sân bay và cửa khẩu. Mạng lưới này giúp rút ngắn thời gian kết nối giữa Quảng Ninh với Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương trong vùng, đồng thời mở rộng khả năng giao thương với Trung Quốc và quốc tế. Nút giao Minh Khai góp phần tăng khả năng kết nối khu vực phía Tây với tuyến cao tốc Hạ Long - Hải Phòng. Từ đây, Quảng Ninh có thêm điều kiện kết nối thuận lợi với Hải Phòng, Hà Nội và các trung tâm sản xuất, dịch vụ của vùng Đồng bằng sông Hồng.
Ở phía Đông, Móng Cái giữ vai trò đầu mối giao thương với Trung Quốc. Cùng với hệ thống cửa khẩu, các tuyến giao thông kết nối Móng Cái với các khu vực trong thành phố và mạng lưới cao tốc tạo điều kiện để hoạt động xuất nhập khẩu, thương mại biên giới và logistics phát triển.
Từ lợi thế cửa khẩu, Quảng Ninh đang hướng tới phát triển hệ sinh thái thương mại - logistics xuyên biên giới thay vì chỉ tập trung vào hoạt động thông quan. Cửa khẩu thông minh, ứng dụng công nghệ số, kết nối dữ liệu, thương mại điện tử xuyên biên giới và logistics thông minh được xác định là những hướng phát triển nhằm nâng cao hiệu quả lưu chuyển hàng hóa.
Cùng với đường bộ và cửa khẩu, cảng biển là một mắt xích quan trọng trong chuỗi kết nối của Quảng Ninh. Cảng Cái Lân và hệ thống cảng biển của thành phố có vai trò kết nối hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu với các thị trường. Theo định hướng quy hoạch đến năm 2030, hệ thống cảng biển Quảng Ninh được định hướng đáp ứng nhu cầu thông qua khoảng 118-153 triệu tấn hàng hóa, trong đó container khoảng 0,65-0,93 triệu TEU. Các khu bến được tổ chức gắn với các trung tâm công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghiệp và hành lang vận tải liên vùng. Việc phát triển cảng biển gắn với logistics vì vậy không chỉ phục vụ nhu cầu vận chuyển hàng hóa của riêng Quảng Ninh mà còn tạo điều kiện kết nối với các chuỗi sản xuất và thị trường của khu vực.
Bên cạnh đó, hàng không là một hướng kết nối quan trọng trong cấu trúc giao thông của Quảng Ninh. Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn được định hướng phát triển gắn với du lịch, dịch vụ, logistics hàng không và vận chuyển hàng hóa, với công suất khoảng 2,5 triệu hành khách và 5.000 tấn hàng hóa/năm vào giai đoạn 2021-2030, tăng lên khoảng 20 triệu hành khách và 200.000 tấn hàng hóa vào năm 2050. Cùng với mở rộng vận tải hành khách và hàng hóa, các dịch vụ kỹ thuật hàng không cũng được nghiên cứu phát triển, trong đó Sun Group cùng HAECO, Japan Airlines và Toyota Tsusho đã ký kết hợp tác nghiên cứu đầu tư tổ hợp bảo dưỡng, sửa chữa và đại tu tàu bay (MRO) quy mô khoảng 360 triệu USD tại Vân Đồn. Nếu được triển khai, dự án sẽ bổ sung dịch vụ kỹ thuật cho mạng lưới hàng không, đồng thời tạo thêm liên kết với logistics, đào tạo nhân lực và các dịch vụ hỗ trợ, qua đó nâng cao vai trò của Vân Đồn trong kết nối Quảng Ninh với các thị trường trong nước và quốc tế.
Như vậy, các tuyến cao tốc, đường ven biển, cầu kết nối, cảng biển, sân bay và cửa khẩu đang tạo thành mạng lưới kết nối nhiều hướng cho Quảng Ninh. Phía Tây kết nối với Hải Phòng, Hà Nội và các trung tâm kinh tế của vùng; phía Đông kết nối với Trung Quốc; phía biển mở rộng khả năng phát triển kinh tế biển và vận tải biển; trong nội thành phố, các đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển và điểm du lịch được liên kết ngày càng chặt chẽ. Đó cũng là điều kiện để Quảng Ninh kết nối giữa các chuỗi sản xuất, dịch vụ và thị trường. Trong đó, công nghiệp gắn với cảng biển và logistics; thương mại biên giới gắn với cửa khẩu và hệ thống vận tải; du lịch gắn với hàng không, đường bộ và dịch vụ; kinh tế biển gắn với đô thị, cảng biển và các trung tâm dịch vụ.
Theo đề án thành lập thành phố Quảng Ninh của Chính phủ, trong không gian phát triển mới, Quảng Ninh có điều kiện phát huy vai trò kết nối giữa vùng Đồng bằng sông Hồng với không gian biển và thị trường Trung Quốc. Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh có những lợi thế khác nhau về chính trị, dịch vụ, công nghiệp, cảng biển, logistics, du lịch, kinh tế biển và cửa khẩu. Khi được kết nối bằng hạ tầng và các chuỗi giá trị phù hợp, những lợi thế này có thể bổ trợ cho nhau, tạo ra không gian phát triển rộng hơn cho toàn vùng. Đây là cơ sở để Quảng Ninh phát huy lợi thế về vị trí địa kinh tế, đồng thời tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, logistics, thương mại, du lịch và kinh tế biển của khu vực.
Thực hiện: Thu Hoài
Trình bày: Hải Anh