Với họ, những người lính đóng quân ở Nà Sa, mỗi người đều có những điểm riêng, không ai giống ai, từ quê hương, hoàn cảnh đến cá tính. Thế nhưng, họ lại có một điểm chung khiến những con người hoàn toàn xa lạ trở nên khăng khít, gắn bó với nhau. Đó chính là tình yêu sâu sắc, máu thịt với mảnh đất, con người miền biên viễn Bình Liêu...
Cán bộ, chiến sĩ khối đội Nà Sa cùng Đội tri thức trẻ tình nguyện Lâm Trường 156 hướng dẫn người dân bản Nà Sa trồng lúa nước. (Ảnh do Lâm trường 156 cung cấp)
“Đội là nhà, biên giới là quê hương...”
Những ngày chúng tôi lên công tác tại Bình Liêu rơi đúng vào đợt không khí lạnh tăng cường tràn về, gây rét đậm, rét hại kéo dài trên toàn miền Bắc. Theo lời hẹn với Trung tá Lưu Ngọc Thoan, cán bộ phụ trách chính trị Lâm trường 156, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 327 (KT-QP), tôi cùng anh bạn đồng nghiệp lên bản Nà Sa, xã Hoành Mô để trực tiếp “mục sở thị” cuộc sống của các chiến sĩ nơi đây. Nghe đài báo sáng hôm ấy sẽ rất lạnh, tiết trời buốt giá hơn mọi hôm nên mỗi chúng tôi đều thủ sẵn một chiếc áo phao dày bịch. Vậy mà, mưa phùn kèm theo gió núi rít qua từng lớp vải, vẫn khiến chúng tôi không khỏi rùng mình.
Sau hơn 1 giờ đồng hồ vừa đi vừa dò dẫm tìm đường, cuối cùng chúng tôi cũng có mặt ở Lâm trường 156. Dẫn chúng tôi xuống “khối đội Nà Sa”, đồng chí Lưu Ngọc Thoan cho biết: Khối đội Nà Sa là cách gọi quen thuộc của cán bộ, chiến sĩ và người dân nơi đây. Thực tế, đây là một doanh trại nhỏ với 14 cán bộ, chiến sĩ thuộc 3 đội sản xuất khác nhau của Lâm trường. Khối đội này là một trong những đơn vị đi đầu toàn Đoàn, luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Ngoài huấn luyện, trực sẵn sàng chiến đấu, các cán bộ, chiến sĩ còn tích cực tăng gia sản xuất; đồng thời, triển khai các mô hình phát triển kinh tế giúp bà con vùng biên xoá đói, giảm nghèo, góp phần giữ vững phên dậu biên cương của Tổ quốc.
Pha ấm trà đặc mời khách, Trung tá Nguyễn Trọng Bình, Đội trưởng đội 4 cho biết, hiện khối đội có 3 đội trưởng phụ trách 3 đội sản xuất. Ngoài anh Bình, còn có Trung tá Hoàng Xuân Bích là đội trưởng đội 2 và Trung tá Nguyễn Văn Cường là đội trưởng đội 1. Giới thiệu về mình, anh Bình cho biết, anh sinh ra và lớn lên ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Kể từ năm 2001, khi được điều động công tác từ cơ quan quân sự địa phương về tuyến biên giới Bình Liêu, anh đã luân chuyển qua nhiều đơn vị sản xuất khác nhau của các lâm trường thuộc Đoàn KT-QP 327. Đến tháng 3-2013, anh mới về đơn vị hiện nay.
Trong số ba đội trưởng ở khối đội Nà Sa, Trung tá Nguyễn Văn Cường tuy ít tuổi nhất (43 tuổi) nhưng lại là một trong những người công tác lâu năm nhất ở tuyến biên giới Bình Liêu. Cách đây tròn 13 năm, chàng sĩ quan trẻ nhận được quyết định ra tăng cường cho Đoàn KT-QP 327. Sau một năm công tác ở Bình Liêu, anh quyết định đưa vợ và hai con nhỏ đang sống ở quê nhà Nam Định, lên xây dựng cuộc sống mới trên mảnh đất biên cương.
Nhớ lại những ngày đầu nhận công tác, anh Cường kể: Ngày ấy, khu vực này còn hoang vu, hẻo lánh lắm. Tuyến vành đai biên giới chỉ có lưa thưa mấy ngôi nhà của người dân bản địa, còn lại là núi non trùng điệp. Trình độ dân trí thấp, phương thức sản xuất lạc hậu nên đời sống người dân rất khó khăn, thiếu thốn. Vì vậy, anh em chúng tôi được phân công nhiệm vụ tuyên truyền, vận động bà con nơi đây di dãn ra sống sát biên giới để khép kín vành đai biên giới, giúp dân xoá đói, giảm nghèo. Đồng thời, tăng gia sản xuất để tự chăm lo cho cuộc sống của chính mình.
Cuộc sống mới ở vùng biên
Đi cùng Trung tá Nguyễn Văn Cường, chúng tôi đến bản Nà Sau, xã Vô Ngại. Anh Cường cho biết, tháng 8 vừa qua, Lâm trường đã phối hợp triển khai chương trình đưa 50 hộ dân ở bản Nà Nhái (xã Vô Ngại) di dân đến sinh sống ở Nà Sau. Bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ, các cán bộ, chiến sĩ khối đội Nà Sa đã tích cực tuyên truyền, vận động người dân chuyển đến sống ở khu vực sát biên giới. Cùng với đó, các đội sản xuất cũng tăng cường lực lượng, tập trung xây dựng và hoàn thiện các khu nhà ở để đưa vào sử dụng trước Tết Nguyên đán. Nhờ đó, chỉ một thời gian ngắn sau khi triển khai, hiện đã có 10 hộ dân chuyển đến nơi này xây dựng cuộc sống mới.
Giữa bốn bề núi rừng hoang vu giờ đây là những ngôi nhà sơn màu vàng cam, lợp mái ngói đỏ tươi rực rỡ. Nhìn những ngôi nhà mới, khang trang trước mặt, chúng tôi có cảm tưởng như đang đứng giữa chốn phố thị, chứ không phải vùng biên giới xa xôi, hẻo lánh. Đón chúng tôi vào thăm ngôi nhà vẫn còn thơm mùi sơn mới, gương mặt ông Phùn Trau Dùng hiện rõ nét rạng ngời, phấn khởi. Ông hồ hởi khoe: “Ngôi nhà này vừa mới xây xong đấy. Nhà này khang trang, kiên cố và rộng rãi hơn nhà cũ ở Nà Nhái nhiều lắm. Trước đây, cả gia đình tôi sống trong căn nhà thấp lè tè, dột nát. Cứ đến mùa mưa lũ, gia đình lúc nào cũng thấp thỏm, lo âu vì nhà cửa không kiên cố. Tuy nhiên, từ giờ chúng tôi có thể yên tâm rồi. Có nhà mới không những chắc chắn mà còn đẹp thế này, thật không còn gì bằng”.
Đến Nà Sau bây giờ, ít ai biết rằng cách đây ít lâu, bản này còn là vùng đất hoang vu, hẻo lánh, không có người sống. Vậy mà giờ đây, Nà Sau đã ngập tràn những âm thanh, sắc màu của cuộc sống; tiếng trò chuyện của những người hàng xóm mới làm quen với nhau rôm rả, tiếng trẻ con nô đùa ríu rít… Những ngôi nhà mới mọc lên dường như đã thổi bùng lên sức sống mới cho bản làng miền biên viễn này. “Lúc đầu, khi các cán bộ chính quyền địa phương vận động ra gần khu vực biên giới sinh sống, chúng tôi băn khoăn, lo lắng lắm. Tuy nhiên, được sống trong ngôi nhà mới kiên cố, khang trang lại được sự giúp đỡ của của cán bộ, chiến sĩ Lâm trường cũng như địa phương, tôi thấy thật yên tâm. Có được cuộc sống mới ổn định hơn trước, gia đình tôi sẽ mạnh dạn tìm tòi, học hỏi các mô hình sản xuất để phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thoát nghèo” - Anh Phùn A Dùng chia sẻ.
Anh Nguyễn Văn Cường cho biết, không chỉ đưa dân ra định cư ở vùng biên, thời gian qua, cán bộ chiến sĩ khối đội Nà Sa còn thường xuyên góp công, giúp dân xây dựng chuồng trại, đào ao thả cá, cải tạo vườn tạp. Cùng với đó, khối đội tích cực hỗ trợ, giúp đỡ người dân 2 xã Hoành Mô và Lục Hồn, nơi đơn vị đóng quân triển khai thực hiện các mô hình phát triển kinh tế, như: Trồng trám, măng tre Bát độ, dong riềng; nuôi lợn rừng, gà sao, gà Tiên Yên… Từ hiệu quả của các mô hình, nhiều hộ gia đình đã biết chăn nuôi gia cầm kết hợp với trồng rau, thả cá, thu lãi từ 10-15 triệu đồng/năm. Điển hình như gia đình bà Nông Thị Vươn (bản Đồng Cậm, xã Hoành Mô), ông Chìu Mằn Khìn (bản Nà Choòng, xã Hoành Mô)…
Chúng tôi rời Nà Sau sau những cái nắm tay thật chặt của dân làng. Tình cảm nồng hậu, thắm thiết và chân tình ấy của bà con cứ vấn vương mãi trong lòng chúng tôi suốt chặng đường về. Tôi nhớ đến niềm vui hiện lên trong ánh mắt của ông Dùng và mường tượng về khung cảnh đón tết của bà con trên vùng định cư mới dịp xuân này. Còn anh Cường, có lẽ anh đang nhớ đến lời gửi gắm của bà con nơi đây, nghĩ đến các mô hình giúp dân Nà Sau phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo. Và xa hơn nữa là việc lập thêm những bản làng, khu dân cư mới no ấm, yên vui trên vùng đất biên cương…
Hoàng Anh