Theo dự báo của Bộ Công Thương, trong năm nay, nước ta nhập khẩu hơn 3,1 triệu tấn than, nhưng số liệu nhập khẩu than tính đến tháng 8 của Tổng cục Hải quan cho thấy đã lên đến 9,7 triệu tấn, giá trị kim ngạch hơn 600 triệu USD, vượt gấp 3 lần kế hoạch đề ra. Trong đó, lượng nhập khẩu của TKV chỉ chiếm khoảng 10%. Tình trạng này đang tạo áp lực không nhỏ đến ngành Than trong nước và đòi hỏi cần sớm quy hoạch, sắp xếp lại các đầu mối nhập khẩu than theo hướng tinh gọn, hiệu quả.
Tồn kho tăng cao
Phó Tổng Giám đốc TKV Nguyễn Văn Biên nhận định: Khó khăn lớn nhất của ngành Than hiện nay là lượng tồn kho tăng cao, ở mức 11 triệu tấn, giá trị tương đương 12.000 tỷ đồng. Nếu như năm 2011 đạt “đỉnh cao” cả về sản lượng và hiệu quả kinh doanh (tiêu thụ 44,7 triệu tấn than, lợi nhuận 8.600 tỷ đồng), hiện mỗi năm TKV chỉ tiêu thụ khoảng 35 triệu tấn, dự kiến năm nay tiếp tục giảm khoảng 3 triệu tấn (8%) so với năm trước. Tiêu thụ than gặp khó do xuất khẩu giảm, chỉ bằng 38% so cùng kỳ.
Đến cuối tháng 4 vừa qua, Chính phủ mới cho phép xuất khẩu than chất lượng cao trong nước không sử dụng. Thời điểm đó, các khách hàng lớn đã chuyển sang ký hợp đồng mua than của các nước khác. Hiện ở thị trường trong nước, chủng loại than cám 6a1 khu vực Hòn Gai, Cẩm Phả (Quảng Ninh) đang được nhiều hộ sử dụng lựa chọn và tiêu thụ với sản lượng lớn. Tuy nhiên, theo cân đối cơ cấu các chủng loại than trong nước, loại than cám 6a1 hiện không đáp ứng đủ nhu cầu, ước tính năm nay thiếu khoảng 3 triệu tấn. Trong khi đó, loại than cám có lưu huỳnh cao, chất bốc thấp ở vùng miền tây Quảng Ninh sản xuất (Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh), trước đây chủ yếu để xuất khẩu, hiện không xuất khẩu nữa, nhưng trong nước lại chưa có nhu cầu, nên chủng loại than này tồn kho tăng cao.
Than trong nước bán cho các nhà máy nhiệt điện chạy than chủ yếu là than cám 6 (chất lượng dưới trung bình) chiếm tỷ trọng khoảng 80%, nên giá bán bình quân giảm. Than chất lượng tốt hơn bán cho các nhà máy xi-măng lại bị giảm do nhiều khách hàng đối lưu bán clanh-ke và mua lại than từ các khách hàng nước ngoài với giá thấp hơn. Than bán cho nhà máy sản xuất phân bón cũng giảm mạnh, do sản xuất nông nghiệp ngưng trệ vì gặp hạn và mặn xâm nhập đầu năm.
Trong quá trình sản xuất và sàng tuyển, sẽ có những loại than chất lượng cao trong nước hiện không có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không hết, như than cục 4, 5 và than cám 1, 2, 3 chất lượng cao (chủ yếu sử dụng cho ngành luyện kim, hóa chất...). Loại than này không để lâu được vì qua thời gian sẽ bị phong hóa, giảm chất lượng và giá trị. Nếu đem pha trộn để tạo những chủng loại than chất lượng thấp hơn cho nhu cầu trong nước sẽ lãng phí, giảm hiệu quả sử dụng tài nguyên. Nhưng sử dụng cho xuất khẩu, giá than chất lượng cao này có giá trị gấp hơn hai lần so với than cám 5, 6 dùng cho sản xuất điện.
Từ thực tế năm 2015 và 2016, TKV đề nghị xem xét, quyết định cơ chế cho phép xuất khẩu theo giai đoạn (2016-2020) để ngành Than chủ động điều hành sản xuất, ổn định việc làm cho người lao động, phát huy hiệu quả hợp đồng xuất khẩu than dài hạn để vay vốn ưu đãi. Đối với than Vàng Danh, Uông Bí, trong nước chưa sử dụng hết cũng cần xem xét xuất khẩu để giảm tồn kho.
Sớm quy hoạch các đầu mối nhập khẩu
Cùng với TKV, hiện có khá nhiều đầu mối doanh nghiệp thương mại được phép nhập khẩu than. Theo Cục Hải quan Quảng Ninh, có 18 đơn vị nhập khẩu than qua địa bàn này. Than nhập khẩu có thuế 0%, với sự suy giảm của thị trường năng lượng thế giới, giá dầu xuống thấp kéo theo giá than giảm mạnh, than ngoại đang có lợi thế hơn so với than nội khoảng 5-8 USD/tấn. Việc có nhiều đầu mối nhập khẩu tuy giúp đa dạng nguồn cung, nhưng phát sinh bất cập, bởi khi có nhiều đơn vị cùng chào mua một đối tác nước ngoài, sẽ gây bất lợi về giá và tăng sức ép lên ngành Than nội địa. Trong số hơn 50 mặt hàng nhập khẩu lớn về Việt Nam 8 tháng qua, mặt hàng than đá tăng đột biến về cả lượng và giá trị, bình quân mỗi tháng nhập khẩu 1,2 triệu tấn, tương ứng hơn 75 triệu USD/tháng. Trong khi đó, cả năm 2015, nước ta mới nhập 500.000 tấn than.
Phó Tổng Giám đốc TKV Nguyễn Văn Biên cho biết, thuế, phí đối với than trong nước cao hơn các nước trong khu vực, đã làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Thị trường trong nước đã phải nhường hơn 25% thị phần cho than nhập khẩu, đúng lúc ngành gặp nhiều khó khăn. Vì thế, TKV đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải quyết các loại thuế, phí thuộc thẩm quyền và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh thuế tài nguyên tương đương các nước trong khu vực, nhằm giữ vững thị trường và năng lực sản xuất của ngành Than (trong khung thuế suất Quốc hội đã ban hành: Than hầm lò (từ 4-20%), than lộ thiên (từ 6-20%)).
Để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, Chính phủ đã giao TKV đẩy mạnh đầu tư khai thác và phát triển các mỏ, nâng cao sản lượng than sản xuất trong nước. Đồng thời, tổ chức nhập khẩu than, bảo đảm cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện và nhu cầu khác của nền kinh tế. Quý I vừa qua, trên thị trường thế giới, nguồn cung than đang vượt cầu, có giá tốt, khá thuận lợi để thiết lập, đàm phán, đặt quan hệ lâu dài với các đối tác cung cấp than. Tuy nhiên, từ quý II-2016, giá than thế giới đã có chiều hướng tăng cao hơn, khoảng 10 USD/tấn.
Theo dự báo của một số chuyên gia ngành Than, nguồn cung cấp than khá dồi dào trên thế giới như hiện nay chỉ trong ngắn hạn, khi kinh tế và thị trường phục hồi thì việc nhập khẩu than với khối lượng lớn, ổn định sẽ không dễ, thậm chí khó khăn đối với loại than an-tra-xit mà nhiều nhà máy trong nước đang sử dụng. Vì vậy, Nhà nước cần tăng cường kiểm soát các nguồn than, sắp xếp các đầu mối nhập khẩu phù hợp, bảo đảm cân đối cung - cầu, ổn định thị trường và hiệu quả chung của nền kinh tế. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, hằng năm nhập hàng trăm triệu tấn than, cũng đều quy hoạch các đầu mối bảo đảm đủ điều kiện năng lực, hạ tầng phù hợp, môi trường... Các nhà máy điện đang hoạt động hiện nay và một số nhà máy sẽ đưa vào hoạt động trong thời gian tới vẫn đang có nhu cầu sử dụng nguồn than an-tra-xit sản xuất trong nước là chính, vì than cho điện đòi hỏi chủng loại phù hợp nhà máy đã thiết kế với khối lượng lớn, ổn định và lâu dài.
Dự kiến đến năm 2030, Việt Nam cần nhập khẩu 70 triệu tấn than. Trong thời gian tới, cùng với quy luật đào thải của thị trường thì vai trò của Nhà nước trong quy hoạch, sắp xếp lại các đầu mối nhập khẩu là cần thiết để đem lại hiệu quả tốt hơn cho doanh nghiệp và kinh tế đất nước. Nguồn cung cấp than trên thế giới như hiện nay chỉ trong ngắn hạn, khi kinh tế và thị trường thế giới phục hồi, việc nhập khẩu than với khối lượng lớn, ổn định sẽ trở nên khó khăn, nhất là đối với loại than an-tra-xit nhiều nhà máy trong nước đang sử dụng. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách phù hợp để giữ ổn định năng lực sản xuất ngành Than, đáp ứng nhu cầu than tăng cao từ sau năm 2017.
Theo MINH TRANG (nhandan.com.vn)