Theo dự báo của trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia, tình hình mưa bão những tháng còn lại của năm 2026 có xu hướng gia tăng về tần suất, cường độ, diễn biến khó lường. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cũng nhận định, mức độ biến đổi khí hậu phức tạp như hiện nay đang gia tăng, vì vậy, các biện pháp phòng ngừa, nâng cao năng lực bơm thoát nước mỏ trong mùa mưa được thực hiện ở mức cao nhất.
Ở độ sâu – 300m so với mực nước biển, những mùa mưa trước, moong than khai trường Đèo Nai - Cọc Sáu có trữ lượng nước dao động khoảng 6 triệu m3. Tuy nhiên, từ đầu mùa mưa năm nay với những trận mưa lớn kéo dài, vũ lượng vượt trội so với dự báo, lượng nước tích trong moong có thời điểm cao hơn 6 triệu m3. Để xử lý lượng nước này, các khai trường của Công ty hiện đang sử dụng 6 bơm công suất 1.250 m3/h từ mức đáy moong đến mức trung gian -50m và lên mặt bằng hệ thống xử lý nước thải tập trung ở mức +90m so với mực nước biển. Về mặt công nghệ, các hệ thống bơm của Than Đèo Nai đều sử dụng công nghệ bơm tiên tiến, điều khiển khởi động mềm tập trung và được tự động, liên động trong từng dãy bơm từ cấp dưới lên cấp trên bằng sóng wifi.
Đặc điểm các mỏ lộ thiên của ngành Than là khai thác theo mùa. Mùa mưa khai thác các tầng trên cao, mùa khô đào sâu đáy mỏ để lấy than. Mặt khác, diện khai thác của các mỏ than lộ thiên đều được tổ chức dưới mức thoát nước tự chảy. Để đào sâu đáy mỏ lấy than, các đơn vị sẽ triển khai phương pháp bơm cưỡng bức, bơm cạn nước và vét sạch khối bùn lắng đọng tại đáy mỏ sau mỗi mùa mưa.
Theo đó, những thiết bị bơm đang được sử dụng ở các mỏ lộ thiên đều có công suất lớn, chiều cao đẩy lớn và phương pháp bơm cưỡng bức để thoát nước đáy moong. Các mỏ có kích thước khai trường lớn sẽ bố trí trạm bơm trung gian trên bờ mỏ và sử dụng bơm 2 cấp, mỏ kích thước khai trường hạn chế sử dụng công nghệ bơm nối tiếp để bơm từ đáy mỏ lên trên mức thoát nước tự chảy. Tùy yêu cầu thực tế, các loại bơm được sử dụng cho các mỏ có lưu lượng từ 560÷800 m3/h và từ 1040÷1260 m3/h; một số mỏ sử dụng thêm các loại bơm có công suất lớn với lưu lượng 1400 m3/h, 2000 m3/h và bơm bùn lưu lượng 400 m3/h.
Với khối khai thác than hầm lò, hiện nay, 100% các mỏ đã hoàn thành công tác nạo vét hầm bơm trung tâm, triển khai mở rộng nạo vét mương rãnh, nhất là khu vực lò xuyên vỉa chính. Trong trường hợp có mưa lớn kéo dài, các trạm bơm chính và dự phòng phải đảm bảo năng lực bơm và tiêu thoát nước, tháo khô mỏ một cách nhanh nhất, bảo vệ tối đa diện sản xuất. Từ đầu năm 2026, các đơn vị cũng đã tiến hành kiểm tra, sửa chữa, đại tu, thay thế các hệ thống máy bơm, van, phụ kiện cho hầm bơm để đảm bảo năng lực thoát nước trong trường hợp có mưa lớn. Năng lực hệ thống, thiết bị trạm bơm chính và dự phòng cũng được nâng cấp.
Các hệ thống bơm nước hầm lò cũng được tự động hóa và đồng bộ với công nghệ kiểm soát, thăm dò mọi nguy cơ bục nước, ngập mỏ. Ngoài đảm bảo yếu tố kỹ thuật, các đơn vị cũng đã chủ động xác định nguồn xuất lộ nước từ những khu vực chứa nước trên bề mặt địa hình như: Sông suối, ao hồ, các moong khai thác lộ thiên, bãi thải đang hoặc đã ngừng hoạt động; các khu vực bị sụt lún, nứt nẻ. Đáng chú ý là những khu vực chứa nước dưới lòng đất như: Địa tầng chứa nước, lỗ khoan địa chất, khu vực đã khai thác, hệ thống lò cũ, đứt gãy; khu vực giáp ranh chồng lấn khai thác giữa các đơn vị khai thác.
Theo anh Đồng Xuân Dũng, Trưởng phòng Cơ điện Vận tải Công ty CP Than Mông Dương, đơn vị thường xuyên theo dõi nguy cơ xuất lộ nước tại những khu vực này, bám sát các phương án triệt tiêu nguy cơ bục nước; đồng thời duy trì năng lực 3 trạm bơm, đảm bảo các yêu cầu thoát nước cho toàn mỏ. Đồng thời, Công ty cũng đang triển khai thực hiện các dự án đầu tư bổ sung, nâng cấp các hệ thống cung cấp điện, máy phát điện dự phòng, các hệ thống bơm, đường ống thoát nước; gồm: trạm biến áp 35/6kV (đưa vào sử dụng trong quý II/2026); trạm phát điện dự phòng trung tâm (đưa vào sử dụng trong quý III/2026) và thiết bị hầm bơm trạm điện mức -400 (dự kiến dự án hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2027).
Với tình hình biến đổi khí hậu phức tạp như hiện nay, các phương án thoát nước mỏ đã được triển khai với hệ số dự phòng cao hơn; các trạm bơm cũng được hiện đại hóa hơn. Trong năm 2025 vừa qua, để đảm bảo các thiết bị bơm thoát nước mỏ, các đơn vị khai thác than hầm lò của TKV đã đầu tư 50 bơm nước các loại để tăng cường và thay thế các bơm nước hiện có công suất nhỏ tạm thời; đồng thời đầu tư lắp đặt 13/57 hệ thống giám sát điều khiển tập trung cho các trạm bơm tại các đơn vị khai thác than hầm lò. Việc chủ động về năng lực bơm thoát nước sẽ giúp các mỏ giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng của mùa mưa bão năm nay đến hoạt động khai thác than.