Tăng cường vốn hỗ trợ cho nền kinh tế

Thực hiện các biện pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội theo chỉ thị của Chính phủ, từ đầu năm tới nay, các ngân hàng trên địa bàn Quảng Ninh đã bám sát mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, qua đó góp phần không nhỏ vào việc tăng cường hỗ trợ cho nền kinh tế.

Các ngân hàng vẫn đáp ứng cơ bản nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất của khách hàng. Trong ảnh: Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Công thương TP Uông Bí.
Các ngân hàng vẫn đáp ứng cơ bản nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất của khách hàng. Trong ảnh: Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Công thương TP Uông Bí.

Có thể nói hoạt động của các ngân hàng gặp khá nhiều khó khăn vì nhiều nguyên nhân. Một trong số đó là nguồn vốn huy động đã không còn dồi dào như trước. Tuy nhiên, bằng nhiều biện pháp hiệu quả, các ngân hàng vẫn đảm bảo được lượng tiền cung ứng cần thiết cho các khoản vay, đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất. Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Ninh, từ đầu năm tới nay, tổng doanh số cho vay của các ngân hàng trên địa bàn đạt gần 60.701 tỷ, tăng 42,2% so cùng kỳ năm 2010. Trong đó cho vay ngắn hạn tăng 53,1%; cho vay trung và dài hạn tăng 10,9% so cùng kỳ năm 2010. Các ngân hàng đã đẩy mạnh kiểm soát tín dụng, nâng cao chất lượng thẩm định và tăng cường kiểm tra, giám sát trước, trong và sau cho vay, phòng ngừa hiện tượng đảo nợ, ngăn ngừa nợ xấu phát sinh, đồng thời chủ động và có giải pháp cơ cấu lại nợ đối với một số doanh nghiệp khó khăn. Với việc đầu tư vốn có chọn lọc, cơ cấu đầu tư theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế tiếp tục có sự dịch chuyển phù hợp hơn, góp phần hỗ trợ và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo đúng định hướng. Cụ thể, dư nợ cho vay khu vực kinh tế Nhà nước tăng 6,9%, chiếm 40,4% tổng dư nợ; dư nợ cho vay các khu vực còn lại tăng 18%, chiếm 59,6% tổng dư nợ. Vốn tín dụng ngân hàng tiếp tục được tập trung đầu tư vào các ngành kinh tế trọng điểm như sản xuất kinh doanh than, điện, vật liệu xây dựng, thương mại, du lịch... Trong đó vốn đầu tư cho các ngành công nghiệp như khai thác mỏ, chế biến, sản xuất phân phối điện nước, xây dựng chiếm 53,1% tổng dư nợ, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, đưa giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục tăng cao. Cho vay các ngành dịch vụ như thương mại, du lịch, vận tải, thông tin liên lạc... chiếm 43,1% tổng dư nợ, tạo điều kiện hỗ trợ các thành phần kinh tế mở rộng, nâng cao chất lượng và phát triển dịch vụ, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống. Riêng đối với chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ, các Ngân hàng trên địa bàn tiếp tục cho vay nhằm khơi thông nguồn vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân và từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh tiếp tục mở rộng với các chương trình cho vay theo quy định của Chính phủ, góp phần thực hiện xoá đói, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội của tỉnh. Theo đó, dư nợ cho vay tín dụng chính sách đến thời điểm này đạt 1.386 tỷ đồng, tăng 4,4% so với cuối năm 2010. Trong đó dư nợ cho vay ưu đãi hộ nghèo đạt 571,8 tỷ đồng, chiếm 41,3%; cho vay giải quyết việc làm đạt 89 tỷ đồng, chiếm 6,4%; cho vay nước sạch 221 tỷ đồng, chiếm 15,9%; cho vay vùng khó khăn 245,5 tỷ đồng, chiếm 17,7%; cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đạt 229,8 tỷ đồng, chiếm 16,6%; cho vay lao động xuất khẩu có thời hạn ở nước ngoài, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa… đạt 29 tỷ đồng, chiếm 2,1% dư nợ tín dụng chính sách.

Trong những tháng cuối năm 2011, khối ngân hàng tiếp tục tập trung vào việc kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng đảm bảo dưới 20%. Chủ động cân đối nguồn vốn cho vay và áp dụng lãi suất hợp lý, ưu tiên đối với các dự án có hiệu quả thuộc lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiếp tục giảm tỷ trọng cho vay lĩnh vực phi sản xuất theo lộ trình và đến 31-12-2011 tối đa bằng 16% tổng dư nợ hoặc kế hoạch được giao. Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, ngăn ngừa phát sinh nợ xấu; phân tích, đánh giá lại các khoản cấp tín dụng đối với khách hàng, có biện pháp thu hồi nợ, giảm nợ xấu, nhất là ở những đơn vị có tỷ trọng nợ xấu cao.

Hồng Nhung

Cùng chuyên mục