Thúc đẩy ngành Thuỷ sản phát triển: Cần sớm tháo gỡ những bất cập, hạn chế

Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, với việc sở hữu rất nhiều lợi thế nổi trội so với các tỉnh, thành và là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước, ngành Thuỷ sản của Quảng Ninh hoàn toàn có thể phát triển thành ngành sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên, do vẫn còn tồn tại khá nhiều bất cập và hạn chế, nên ngành Thuỷ sản Quảng Ninh hiện vẫn chưa phát huy được hết những tiềm năng cũng như thế mạnh.

Đường bờ biển dài 250km, diện tích mặt biển trên 6.000km2, diện tích rừng ngập mặn và bãi triều trên 43.000ha, có 21.800ha diện tích chương bãi và các cồn, rạn... là những lợi thế nổi trội để phát triển nhiều giống hải sản, nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, Quảng Ninh có nhiều vịnh, vụng kín gió dọc theo bờ biển nên phát triển được các hình thức nuôi lồng bè, nuôi đáy mà rất ít địa phương trong cả nước có được. Ngoài ra, Quảng Ninh còn có diện tích mặt nước ngọt có khả năng NTTS là 12.992ha. Với những lợi thế trên, nhiều năm liền, sản lượng thuỷ sản của tỉnh đứng thứ 20-22 của cả nước. Ở khu vực Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh có chung ngư trường khai thác là Vịnh Bắc Bộ thì tổng sản lượng thuỷ sản Quảng Ninh thường đứng thứ 3, thứ 4 so với các tỉnh, thành khác trong cùng khu vực. Riêng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, ngành Thuỷ sản cũng đã có nhiều đóng góp đáng kể. Sau 13 năm, tổng sản lượng thuỷ sản năm 2013 so với năm 2000 tăng 3,5 lần, tốc độ tăng trưởng bình quân/năm là 6,6%.

Người dân xã Quảng Điền (Hải Hà) thu hoạch cá rô phi.
Người dân xã Quảng Điền (Hải Hà) thu hoạch cá rô phi.

Mặc dù sản lượng thuỷ sản của tỉnh không ngừng tăng trưởng, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, nhiều sản phẩm là đặc sản đáp ứng nhu cầu khách du lịch trong và ngoài nước. Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận là những kết quả đạt được nêu trên chưa thật sự tương xứng với tiềm năng của ngành. Đơn cử như hiện nay năng suất nuôi trồng còn thấp. Trung bình năng suất nuôi trồng/1ha diện tích nuôi mới đạt 1,55 tấn/ha (thấp nhất trong vùng Đồng bằng sông Hồng). Hay như diện tích NTTS mới chỉ khai thác khoảng 24% (năm 2013 đạt 20.100ha/83.000ha tiềm năng). Nuôi chương bãi, nuôi ghép rừng ngập mặn và nuôi biển là một ưu thế nổi trội mà các tỉnh, thành khác không sở hữu được nhưng việc khai thác sử dụng ở Quảng Ninh còn hạn chế.

Điều đáng nói là trong số 14 vùng NTTS tập trung được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch (ngân sách hỗ trợ đê bao, điện, cấp nước, thoát nước và ao xử lý môi trường dùng chung) đến nay chỉ hoàn thành đầu tư cơ sở hạ tầng dùng chung ở hai vùng. Còn lại, hầu hết hạ tầng dùng chung các vùng NTTS tập trung đều chưa triển khai hoặc triển khai đầu tư dở dang. Cùng với những bất cập trên, hiện con giống các đối tượng nuôi chủ lực thiếu trầm trọng. Giống nước lợ mới đáp ứng được 15-20% nhu cầu, giống nước ngọt đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu. Tính đến hết năm 2012, chưa có cơ sở nào được cấp chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm hay chứng nhận VietGAP. Chưa hình thành được chuỗi giá trị trong sản xuất thuỷ sản, chưa liên kết giữa người sản xuất giống, người NTTS và người chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Đối với việc khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản cũng tồn tại khá nhiều bất cập. Số tàu công suất lớn trên 90CV hoạt động xa bờ tăng chậm, năm 2013 chiếm tỷ lệ không đáng kể khi chỉ có 1,9%. Trữ lượng nguồn lợi thuỷ sản có khả năng khai thác để đảm bảo khả năng tái tạo nguồn lợi khoảng 40.000 tấn (xa bờ 16.000 tấn, gần bờ 24.000 tấn), nhưng riêng năm 2013, sản lượng KTTS của tỉnh đã đạt 55.434 tấn (chủ yếu là sản lượng ven bờ), như vậy gần như đã gây cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản ven bờ và vùng lộng.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, những tồn tại trên xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan, khách quan như: Chiến lược phát triển ngành, quy hoạch phát triển ngành của tỉnh thiếu trọng tâm, trọng điểm, dàn trải dẫn đến không tập trung nguồn lực; chất lượng các quy hoạch ngành thấp, các giải pháp đề xuất thiếu cơ sở khoa học, thiếu giải pháp nâng cao giá trị sản xuất; thiếu sự quan tâm hỗ trợ đầu tư từ ngân sách cho cơ sở hạ tầng ngành thuỷ sản, bao gồm cả hạ tầng NTTS, hạ tầng tránh trú bão, dịch vụ hậu cần nghề cá, hạ tầng thương mại thuỷ sản; cơ chế ưu đãi giúp nhà đầu tư tiếp cận các nguồn vốn tín dụng còn hạn chế; bộ máy quản lý nhà nước ngành Thuỷ sản thường xuyên trong tình trạng không ổn định; công tác quản lý mặt nước NTTS còn nhiều bất cập; công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng giống thuỷ sản còn buông lỏng... Đặc biệt, chưa có giải pháp hữu hiệu để chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ sản, tạo chuỗi giá trị ngành Thuỷ sản bền vững do thiếu cơ chế liên kết giữa sản xuất (nuôi trồng, khai thác) với chế biến (nội địa và xuất khẩu), thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ hỗ trợ phát triển (ngành đóng tàu, ngành sản xuất ngư lưới cụ…) và các ngành, lĩnh vực khác hỗ trợ (chính sách tiếp cận nguồn vốn, hỗ trợ kỹ thuật). Đáng chú ý là nguồn nhân lực phát triển thuỷ sản chưa đáp ứng được yêu cầu, toàn tỉnh có 51.500 lao động thuỷ sản thì có đến trên 94% lao động chưa qua đào tạo...

Thiết nghĩ, khó khăn đã được nhận diện nhưng để ngành Thuỷ sản Quảng Ninh sớm trở thành một ngành sản xuất hàng hoá quan trọng của tỉnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, ngay lúc này, những hạn chế bất cập trên cần sớm được các cấp, ngành và địa phương cùng tích cực tìm biện pháp tháo gỡ.

Hoàng Nga

Cùng chuyên mục