Giảm phát thải trong sản xuất lúa đang trở thành yêu cầu cấp thiết của ngành nông nghiệp. Từ thay đổi phương thức canh tác đến ứng dụng khoa học kỹ thuật, nhiều địa phương đang từng bước xây dựng nền sản xuất lúa xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Hiện nay, tổng diện tích gieo trồng của Quảng Ninh đạt khoảng 62.000ha/năm, trong đó diện tích lúa chiếm khoảng 37.000ha, tập trung tại các địa phương như Đông Triều, Hoàng Quế, Quảng Yên, Hiệp Hòa, Tiên Yên, Đông Ngũ, Đầm Hà, Đường Hoa, Quảng Hà... Đây cũng là loại cây trồng có mức phát thải khí nhà kính lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh.
Mỗi năm, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn sử dụng khoảng 80.000 tấn phân bón và 9.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật, trong đó phân bón vô cơ chiếm trên 60%. Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chưa thật sự cân đối, còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm sản xuất; phân hữu cơ và chế phẩm sinh học chưa được áp dụng rộng rãi. Một số trường hợp còn lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh, ảnh hưởng đến chất lượng đất, nguồn nước, hệ sinh thái đồng ruộng và sức khỏe người dân, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường.
Đối với cây lúa, phát thải khí nhà kính chủ yếu phát sinh trong quá trình ruộng được duy trì ngập nước. Điều kiện yếm khí trong đất tạo môi trường thuận lợi để vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ và phát sinh khí mê-tan (CH₄) - loại khí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lượng phát thải của sản xuất lúa.
Trước yêu cầu phát triển nền nông nghiệp xanh, Quảng Ninh đã từng bước thay đổi phương thức canh tác theo hướng thân thiện với môi trường. Từ năm 2016 đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức 106 lớp tập huấn về quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cho hơn 3.180 học viên. Đến năm 2025, diện tích áp dụng IPM trên cây lúa đạt khoảng 11.600ha, góp phần hình thành tập quán sản xuất an toàn, giảm sử dụng hóa chất.
Song song với đó, giai đoạn 2010-2025, Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng (Sở Nông nghiệp và Môi trường) đã triển khai 53 mô hình, dự án sản xuất lúa với quy mô từ vài héc-ta đến hàng chục héc-ta, tạo tiền đề quan trọng để chuyển giao và nhân rộng các tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn. Đáng chú ý, Trung tâm đã phối hợp với Viện Môi trường Nông nghiệp nghiên cứu, đánh giá lượng phát thải khí nhà kính trong quá trình canh tác lúa. Kết quả cho thấy, khí mê-tan (CH₄) chiếm trên 96% tổng lượng phát thải quy đổi CO₂, trong khi khí N₂O chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Nghiên cứu cũng chỉ ra phát thải CH₄ tăng mạnh từ giai đoạn đẻ nhánh, tiếp tục tăng trong thời kỳ phân hóa đòng và đạt mức cao nhất khi lúa trỗ bông - thời điểm ruộng duy trì ngập nước kéo dài. Đến giai đoạn lúa chín, khi ruộng được tháo nước chuẩn bị thu hoạch, lượng phát thải giảm nhanh do đất chuyển sang trạng thái hiếu khí. Điều này cho thấy, để giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa cần tập trung vào các giải pháp quản lý nước hợp lý, xử lý rơm rạ sau thu hoạch và sử dụng phân bón cân đối.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, vụ Xuân năm 2026, Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng đã triển khai mô hình canh tác lúa giảm phát thải tại phường Đông Triều và xã Đường Hoa. Các hộ dân tham gia được hướng dẫn áp dụng kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ, hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI), sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh và phân chậm tan để từng bước thay thế phân bón vô cơ. Kết quả bước đầu cho thấy mô hình giúp giảm khoảng 44% lượng phát thải khí nhà kính so với phương thức canh tác truyền thống, trong khi năng suất vẫn được duy trì ở mức cao. Năng suất thực thu đạt 7,23 tấn/ha tại phường Đông Triều và 6,60 tấn/ha tại xã Đường Hoa.
Bà Hoàng Thị Thế, Quyền Giám đốc Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng, cho biết: Kết quả thực tế khẳng định canh tác lúa phát thải thấp hoàn toàn có thể triển khai rộng rãi trong điều kiện sản xuất hiện nay. Thời gian tới, Trung tâm sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan chuyên môn hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác lúa giảm phát thải phù hợp với điều kiện của Quảng Ninh, làm cơ sở nhân rộng mô hình, xây dựng vùng sản xuất lúa phát thải thấp và từng bước hình thành nhãn hiệu gạo phát thải thấp, góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của ngành nông nghiệp và cam kết phát thải ròng bằng "0" của Việt Nam.