Thực hiện Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế” (Đề án 25), đầu năm 2015, ngành Y tế đã điều chỉnh lại mô hình hoạt động của y tế tuyến xã. Sau một năm, sự điều chỉnh này đã cho thấy những hiệu quả rõ rệt.
Ghi nhận ở một trạm y tế xã
Cách trung tâm huyện Hải Hà gần 20km, Quảng Sơn được “liệt” vào danh sách xã miền núi khó khăn. Do đi lại xa xôi và trắc trở, lại thêm nhiều hộ dân vẫn phải “chạy ăn từng bữa”; điều kiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở trạm y tế xã hạn chế nên chẳng mấy khi bà con mặn mà tìm đến trạm y tế xã hoặc Bệnh viện đa khoa huyện để thăm khám, kiểm tra sức khoẻ, nhất là với phụ nữ mang thai... Nắm bắt được tâm lý này của người dân, đầu năm 2015, khi ngành y tế điều chỉnh lại mô hình hoạt động của trạm y tế tuyến xã theo Đề án 25, trạm y tế xã Quảng Sơn không những được tiếp tục thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Bộ mà còn được đầu tư thêm trang thiết bị và nhân lực để người dân có nhiều điều kiện tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng ngay tại xã. Trạm trưởng Trạm Y tế xã Quảng Sơn Sằn Sủi Sáng cho biết: “Dù đã có bác sĩ, nhưng trạm vẫn được bố trí thêm 1 bác sĩ nữa và còn được trang bị thêm máy siêu âm xách tay, máy xét nghiệm nước tiểu chuyển từ những trạm y tế nằm gần Bệnh viện huyện về nên chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho bà con ở đây đã vượt trội hẳn so với trước”. Chị Đặng Thị Vương, thôn 4, xã Quảng Sơn, cho biết: “Trước đây, mang thai con đầu, tôi ít đi kiểm tra sức khoẻ vì đến trạm y tế xã cũng chỉ hỏi han tình hình, kiểm tra huyết áp... Nếu xuống tận Bệnh viện huyện thì xa quá. Nhưng giờ trạm có bác sĩ giỏi, tận tình, lại có siêu âm, xét nghiệm nước tiểu nên mang thai lần này, tôi đi khám đều đặn theo lời dặn của bác sĩ”.
Theo nhận xét của ông Trần Văn Chi, Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Hải Hà, chất lượng hoạt động, trong đó có hoạt động khám, chữa bệnh ở trạm y tế xã Quảng Sơn hơn 1 năm trở lại đây có chuyển biến rõ nét. Được biết, trong 6 tháng đầu năm 2016, toàn xã có hơn 2.200 lượt đến khám bệnh; trong đó, 150 lượt làm xét nghiệm nước tiểu, siêu âm.
Chia mô hình theo điều kiện thực tế
Trước năm 2015, các trạm y tế xã trên địa bàn tỉnh đều thực hiện chung một mô hình từ chức năng nhiệm vụ, cơ sở vật chất đến nhân lực... theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020 của Bộ Y tế với những chỉ tiêu cụ thể. Tuy nhiên, do nhu cầu sử dụng và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng miền, địa phương dẫn đến việc đầu tư dàn trải, không phù hợp với nhu cầu thực tế và gây lãng phí đầu tư.
Một số nhiệm vụ, hoạt động được thực hiện tại trạm, như: Khám chữa bệnh, đỡ đẻ… có sự khác nhau giữa các vùng miền; tần suất sử dụng các dịch vụ kỹ thuật này tại các trạm y tế thuộc khu vực thành thị hoặc nơi gần các cơ sở khám chữa bệnh rất thấp. Một số thiết bị, cơ sở vật chất (theo yêu cầu của bộ tiêu chí) đầu tư tại các trạm gần bệnh viện, trung tâm y tế không phát huy hiệu quả. Cụ thể như: Máy điện tim, siêu âm xách tay, máy đo đường huyết, bàn đỡ đẻ, phòng khám phụ khoa, phòng đỡ đẻ... rất ít, thậm chí không sử dụng đến. Trong khi đó, tại các địa bàn này một số nhiệm vụ quan trọng đặc thù khác như: Quản lý hành nghề y dược tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được thực hiện tốt; nhu cầu điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho đối tượng nghiện ma tuý ở một số địa phương chưa được đáp ứng. Còn ở các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi xa bệnh viện, trung tâm y tế rất cần có các thiết bị trên lại chưa được đầu tư kịp thời; trang thiết bị khám, chữa bệnh cũng chỉ được đầu tư đơn giản giống các xã, phường khác. Một số trạm vùng sâu, vùng xa vẫn thiếu bác sĩ...
Để tháo gỡ bất cập này trong thực hiện Đề án 25, từ đầu năm 2015, ngành Y tế đã mạnh dạn chia các trạm y tế theo 3 mô hình hoạt động. Theo đó, 77 trạm y tế xã ở xa các cơ sở y tế tuyến huyện/tỉnh, địa bàn và giao thông khó khăn; nhu cầu khám chữa bệnh, khám quản lý thai nghén, sinh đẻ… tại trạm y tế của người dân còn cao và thực tế vẫn duy trì đều các nhiệm vụ trên, thì tiếp tục thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ theo quy định. Với 56 trạm khác gần các cơ sở y tế tuyến huyện/tỉnh, giao thông tương đối thuận lợi; người dân trong xã không có nhu cầu sinh đẻ tại trạm y tế thì được bỏ chức năng “đỡ đẻ thường” tại trạm. 53 trạm còn lại ở gần các cơ sở y tế tuyến huyện/tỉnh đóng trên địa bàn, giao thông thuận lợi; người dân không có nhu cầu sinh đẻ, khám phụ khoa, khám chữa bệnh… tại trạm y tế thì bỏ hẳn chức năng “đỡ đẻ thường” và “khám chữa bệnh thông thường”.
Với việc chia mô hình này, không chỉ Trạm Y tế xã Quảng Sơn mà các trạm y tế xã khác trên địa bàn tỉnh đều phát huy hiệu quả hoạt động của mình. Với những trạm tuyến xã thực hiện theo 2 mô hình đầu thì được đầu tư thêm các nguồn lực nên triển khai thực hiện đồng bộ tất cả các chức năng, nhiệm vụ được giao; đặc biệt do được đầu tư thêm về nguồn nhân lực và trang thiết bị (chủ yếu được điều chuyển từ các trạm mô hình 3 nên đã triển khai được hầu hết các kỹ thuật theo phân tuyến (trung bình 400 kỹ thuật/trạm y tế), trong đó nhiều dịch vụ khám, chữa bệnh có chất lượng; thậm chí một số trạm còn thực hiện được nhiều kỹ thuật của tuyến huyện. Tại các trạm này, cán bộ, nhân viên thường xuyên cập nhật kiến thức y khoa, các kỹ thuật trong khám, chữa bệnh và chăm sóc người bệnh nên chất lượng chuyên môn được đảm bảo và không ngừng được nâng lên.
Các địa bàn còn lại, sau khi kiện toàn lại hoạt động đã bố trí được nhân lực phù hợp để tham gia và thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng, giải quyết những vấn đề bức xúc đang đặt ra của các địa phương mang tính đặc thù như: Quản lý hành nghề y dược tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm; triển khai công tác điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho đối tượng nghiện ma tuý ở một số địa phương...
Do thực hiện đồng bộ các biện pháp chỉ đạo thực hiện 3 mô hình trạm y tế xã phù hợp với đặc thù và nhu cầu thực tế của người dân trên từng địa bàn để nâng cao được hiệu quả đầu tư, không lãng phí nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo đáp ứng các yêu cầu đề ra của Bộ Y tế nên đến hết năm 2015, tỉnh Quảng Ninh đã hoàn thành Bộ tiêu chí Quốc gia y tế xã giai đoạn 2011-2020, sớm hơn 5 năm so với mục tiêu và lộ trình chung của cả nước.
Thu Nguyệt