Tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn: Chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc

Không phải đợi đến khi có chính sách hỗ trợ lãi suất đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp mà từ hơn 10 năm trước tỉnh Quảng Ninh đã rất tích cực trong việc triển khai thực hiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn. Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, đến nay dù đã đi chặng đường khá dài nhưng những vướng mắc cả cũ và mới đều chưa giải quyết được.

Cán bộ Ngân hàng CSXH huyện Tiên Yên hướng dẫn thủ tục vay vốn cho người dân xã Tiên Lãng (Tiên Yên).
Cán bộ Ngân hàng CSXH huyện Tiên Yên hướng dẫn thủ tục vay vốn cho người dân xã Tiên Lãng (Tiên Yên).

Khó khăn cũ khó giải

Để tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững thị trường tín dụng nông nghiệp và nông thôn gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015, năm 2012 UBND tỉnh đã có Quyết định 2009 về chính sách hỗ trợ lãi suất đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Ông Nguyễn Ngọc Thạch, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh cho biết: Xác định việc thực hiện chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong quá trình hoạt động, nên ngành Ngân hàng Quảng Ninh đã tổ chức triển khai nghiêm túc, kịp thời; đồng thời đã bám sát chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, linh hoạt trong huy động vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân, chủ trang trại, các doanh nghiệp vay vốn. Qua đó đã tạo nguồn vốn để các hộ nông dân, các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, tạo sự ổn định xã hội vùng nông thôn, góp phần đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Trong thời gian thực hiện từ năm 1999 đến nay có nhiều khó khăn, vướng mắc tự bản thân hệ thống các ngân hàng rất khó giải quyết. Bởi nhu cầu vốn đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn khá lớn, trong khi đó, nguồn vốn ngân hàng cho vay lĩnh vực này chủ yếu vẫn từ nguồn huy động theo lãi suất thị trường (chiếm trên 75%). Việc huy động các nguồn lực khác cho vay đầu tư phát triển gặp nhiều khó khăn, do vậy khó khăn cho việc hỗ trợ về lãi suất cho người vay. Chính vì vậy trong 4 tháng đầu năm dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn trên toàn tỉnh chỉ đạt 5.700 tỷ đồng, giảm khoảng 13% so với thời điểm 31-12-2012 (trong đó dư nợ cho vay trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới là 4.229 tỷ đồng). Riêng dư nợ các chương trình, chính sách an sinh xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ tại Ngân hàng Chính sách xã hội đạt 1.425 tỷ đồng, giảm 1,5% so với thời điểm 31-12-2012, trong đó: cho vay ưu đãi hộ nghèo đạt 583 tỷ đồng, cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đạt 216 tỷ đồng, cho vay vùng khó khăn đạt 270 tỷ đồng.

Lý giải về nguyên nhân vì sao việc cho vay đối với khu vực này thường đạt thấp, theo các ngân hàng thì nông nghiệp, nông thôn là khu vực kinh tế thường có chi phí cao, khả năng sinh lời thấp, nhiều rủi ro khách quan (thiên tai, dịch bệnh...), trình độ dân trí hạn chế, năng lực và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp ở nông thôn yếu, khả năng tài chính yếu, giá trị tài sản đảm bảo rất thấp và cơ sở pháp lý chưa rõ ràng (nhà, đất...), trong khi để đầu tư về cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi cần có những món vay lớn, thời gian dài. Mặc dù theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP đã nâng hạn mức cho vay thông thường không cần tài sản thế chấp lên đến 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ sản xuất nông - lâm - ngư, 200 triệu đồng đối với hộ kinh doanh, sản xuất, dịch vụ phục vụ nông nghiệp nông thôn, 500 triệu đồng đối với hợp tác xã, chủ trang trại trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nhưng nhiều khách hàng chưa đủ uy tín, thiếu phương án kinh doanh khả thi nhất là đối với các hợp tác xã nông nghiệp, nông thôn nên khả năng tiếp cận vốn ngân hàng khó khăn. Mặt khác, cùng với việc nâng hạn mức cho vay không cần tài sản thế chấp làm tăng đáng kể rủi ro cho hoạt động của các ngân hàng thương mại. Trong khi đó cơ chế xử lý rủi ro, theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP, chỉ mới quy định xử lý rủi ro trên diện rộng do những nguyên nhân khách quan, bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh...), Nhà nước có chính sách xử lý thiệt hại cho người vay và cho vay (khoanh, miễn, xoá, giãn nợ), mà chưa có quy định hỗ trợ đối với rủi ro khách quan, bất khả kháng trong phạm vi hẹp.

Nông dân thị trấn Trới (Hoành Bồ) làm khung nhà lưới để trồng hoa chất lượng cao. Ảnh: Dương Trường
Nông dân thị trấn Trới (Hoành Bồ) làm khung nhà lưới để trồng hoa chất lượng cao. Ảnh: Dương Trường

Vướng mắc mới đã phát sinh

Trong khi những khó khăn, vướng mắc cũ vẫn chưa thể giải quyết được thì khi thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp theo Quyết định 2009 năm 2012 của UBND tỉnh lại gặp những vướng mắc mới. Năm 2013 ngân sách tỉnh bố trí khoảng 30 tỷ đồng cho các địa phương dành hỗ trợ lãi suất tín dụng đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp. Dù thời gian triển khai chưa lâu nhưng cả ngân hàng, các địa phương và người được vay vốn đều nhận thấy những hạn chế cần sớm được tháo gỡ ngay. Đó là hạn mức được hỗ trợ lãi suất định mức tối thiểu cao, chưa thực sự phù hợp với nhiều đối tượng đang có nhu cầu như: quy định mỗi dự án phương án sản xuất kinh doanh được hỗ trợ lãi suất phải có mức dư nợ tối thiểu là 50 triệu đồng. Nội dung được hỗ trợ bị bó hẹp, chưa đa dạng và linh hoạt, cụ thể đối tượng được hỗ trợ chỉ gồm: đầu tư mới hoặc mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá nông nghiệp; sản xuất các sản phẩm thuộc chương trình phát triển thương hiệu nông - lâm - thuỷ sản; đầu tư mới hoặc mở rộng quy mô các cơ sở chế biến, bảo quản, tiêu thụ hàng hoá nông - lâm - thuỷ sản thông qua hợp đồng của người tiêu thụ với tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá. Trong khi các hình thức khác cũng đang rất cần và có tỷ lệ vay cao nhưng không thuộc diện được hỗ trợ như vay đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn.

Dù đây là chính sách hỗ trợ lãi suất đầu tư nhưng các thủ tục cấp tín dụng không thay đổi so với các khoản vay theo Nghị định 41 hay các chương trình khác. Đó là chính sách chỉ thực hiện khi người vay đã có hợp đồng tín dụng, thế chấp, khế ước vay vốn và giấy xác nhận đã nộp lãi của ngân hàng. Cũng vì là chính sách mới mức độ hiểu để vận dụng của cán bộ chưa sâu, dẫn đến việc vận dụng một cách máy móc, hướng dẫn thủ tục thanh quyết toán gặp nhiều lúng túng.

Đồng chí Trương Công Ngàn, Trưởng Ban Xây dựng Nông thôn mới tỉnh cho biết: Để tháo gỡ những vướng mắc này đề nghị các đơn vị liên quan và các địa phương cần rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cơ chế cho phù hợp với thực tế. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách đến với đối tượng có nhu cầu bằng nhiều hình thức phù hợp, chủ động chỉ đạo cơ sở rà soát, thống kê đối tượng thuộc diện được hỗ trợ lãi suất vốn vay.

Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, tỉnh Quảng Ninh đã và đang dành sự quan tâm rất lớn, vấn đề là vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện cần được giải quyết ngay, kịp thời để vốn về với khu vực chiếm tới trên 50% quy mô dân số của tỉnh hiện nay.

Ngọc Lan

Cùng chuyên mục