Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững là định hướng chiến lược tỉnh Quảng Ninh đang thực hiện. Đồng hành cùng với tỉnh, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cũng đang nỗ lực thực hiện các giải pháp để hiện thực hoá mô hình tăng trưởng này.
Cơ giới hoá trong sản xuất
Với mục tiêu “Mỏ xanh - Mỏ sạch - Mỏ an toàn” thời gian qua Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực sản xuất. Trong lĩnh vực khai thác than hầm lò đã có sự phát triển đáng kể trên cơ sở không ngừng đổi mới và hiện đại hoá công nghệ. Việc đưa công nghệ hiện đại vào khai thác đã giúp ngành Than tiết kiệm tối đa tài nguyên và nguyên liệu sản xuất. Hệ số tổn thất than giảm từ mức 40-50% xuống còn 25%, mức tiêu hao gỗ lò bình quân từ 40-50m3 giảm xuống dưới 10m3/1.000 tấn than nguyên khai.
Để đạt được kết quả trên, TKV đã ứng dụng thành công vì chống thuỷ lực (cột thuỷ lực đơn, giá thuỷ lực di động và khung giá di động), lò chợ cơ giới hoá đồng bộ sử dụng máy khấu combai được đưa vào hoạt động. Với việc ứng dụng công nghệ trên từ năm 2005 đến nay, dây chuyền thiết bị của Tập đoàn đã khai thác và chuyển diện 7 lò chợ khác nhau với tổng sản lượng khai thác trên 1,7 triệu tấn, tương ứng sản lượng trung bình 23.383 tấn/tháng. Qua đó, năng suất lao động tăng từ 7,5-14,1 tấn/công-ca.
Đặc biệt, năm 2006, Viện Khoa học Công nghệ mỏ đã phối hợp với Công ty Than Vàng Danh nghiên cứu xây dựng dự án đầu tư áp dụng công nghệ cơ giới hoá khai thác lò chợ hạ trần than nóc tại vỉa 8 - khu Giếng Vàng Danh. Đồng bộ thiết bị cơ giới hoá khai thác gồm máy combai khấu than, giàn chống tự hành Vinaalta, máng cào và đồng bộ thiết bị phụ trợ. Trên cơ sở áp dụng thành công tại Công ty Than Vàng Danh, công nghệ cơ giới hoá khai thác trên đã được mở rộng áp dụng tại Công ty Than Nam Mẫu với sản lượng khai thác có tháng đạt tới 29.000 tấn/tháng, năng suất lao động từ 9-14,9 tấn/công-ca. Việc cơ giới hoá khai thác vỉa dốc, mỏng cũng đã được triển khai áp dụng ở Công ty Than Mạo Khê, hệ thống khai thác cột dài theo độ dốc, chống giữ bằng tổ hợp dàn chống 2ANSHA cho phép nâng công suất khai thác đạt 60.000-75.000 tấn/năm.
Bên cạnh đó, trong công tác đào chống lò, nhiều giải pháp công nghệ được triển khai áp dụng vào sản xuất như công nghệ chống lò thành vì neo, neo chất dẻo cốt thép, bê tông phun, bê tông cốt liệu nhẹ… Hiện nay, nhiều đơn vị đã áp dụng thành công cơ giới hoá đào lò bằng máy combai AM-45 và AM-50Z để nâng cao tốc độ đào lò, phục vụ mở rộng diện sản xuất. Các dây chuyền cơ giới hoá đào lò đã đi vào sản xuất ổn định, cải thiện điều kiện lao động, giảm rủi ro, giảm chấn động do không phải sử dụng thuốc nổ, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Ngoài ra, để cải thiện điều kiện làm việc nặng nhọc của công nhân khai thác hầm lò, rút ngắn thời gian di chuyển, đảm bảo an toàn và sức khoẻ cho người lao động, một số loại hình vận chuyển công nhân đã được áp dụng tại các mỏ hầm lò như tời hỗ trợ người đi bộ, tời vô cực vận chuyển người. Cụ thể, Công ty Than Hà Lầm và Nam Mẫu đã đầu tư hệ thống cơ giới hoá vận chuyển người, vật tư, thiết bị trong hầm lò bằng mônôray kết hợp đầu tàu điezen. Hệ thống cơ giới hoá vận chuyển mới này có thể lắp đặt trong các đường lò vận tải bằng băng tải, cơ động, linh hoạt, tính thích ứng cao, chịu được nước mỏ và va đập, không chịu ảnh hưởng của nền lò, đi qua các điểm uốn dễ dàng.
Nâng cao giá trị hòn than
Cùng với phát triển ngành công nghiệp khai thác than theo hướng tăng cường chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế của hòn than, TKV cũng tập trung phát triển các ngành sản xuất chính (cơ khí, điện, vật liệu nổ công nghiệp…) theo hướng kinh doanh đa ngành trên nền than - khoáng sản với mục tiêu vừa đảm bảo có hiệu quả, vừa nâng cao tính tự chủ, ổn định và bền vững của Tập đoàn. Thời gian qua, TKV đã đẩy mạnh đầu tư phát triển các dự án nhiệt điện đốt than xấu để tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường. Hiện nay, tổng công suất của các nhà máy nhiệt điện than TKV đã đi vào hoạt động là 1.570MW. Sản lượng điện sản xuất và tiêu thụ đã tăng từ 720 triệu kWh năm 2006 lên hơn 8.500 triệu kWh năm 2014 (tăng 11,8 lần và chiếm khoảng 7,3% tổng sản lượng điện thương phẩm cả nước). Nhờ đó doanh thu đã tăng tương ứng từ 432 tỷ đồng lên trên 9.000 tỷ đồng. Ngành cơ khí mỏ cũng được tập trung đổi mới theo hướng tăng cường liên kết. Theo đó, các đơn vị cơ khí mỏ đã hợp tác sản xuất và lắp ráp các loại xe ô tô trọng tải 15-35 tấn (xe KAMAZ, SCANIA); chế tạo các loại tàu thuỷ trọng tải từ 4.000-12.500 tấn, lắp ráp máy xúc điện 10m3/gầu, máy xúc đá hầm lò, phụ tùng khác… với tổng doanh thu tăng từ hơn 1.000 tỷ đồng năm 2006 lên trên 3.000 tỷ đồng năm 2014.
Đặc biệt với chủ trương vừa tận thu tối đa nguồn tài nguyên, vừa đảm bảo về vệ sinh môi trường sinh thái, TKV đã thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình khai thác hầm lò, chuyển dần từ việc khai thác than lộ thiên sang khai thác hầm lò. Phải kể đến dự án hầm lò của Công ty Than Hà Lầm, có thể cho phép khai thác than ở độ sâu -300. Kế đến là Công ty CP Than Núi Béo đầu tư xây dựng công trình khai thác than hầm lò, công suất 2 triệu tấn than/năm, với tổng mức đầu tư trên 5.300 tỷ đồng. Đây là hai dự án đầu tiên trong lộ trình giảm dần và tiến tới dừng hẳn việc khai thác than lộ thiên trên địa bàn TP Hạ Long, theo cam kết giữa Vinacomin với tỉnh. Ngoài hai dự án trên, TKV đang tích cực triển khai các dự án xây dựng các mỏ hầm lò mới như: Khe Chàm II, IV (3,5 triệu tấn/năm) và phát triển thêm nhiều đường lò ở các công ty Nam Mẫu, Vàng Danh, Hạ Long… để khai thác những vỉa than mới.
Với những giải pháp tích cực, các hoạt động sản xuất - kinh doanh của Tập đoàn đã và đang phát triển theo hướng an toàn, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững.
Hiểu Trân