Hiện nay, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) chủ trương phát triển ngành Than bền vững theo hướng đổi mới công nghệ, triển khai áp dụng cơ giới hoá các khâu khấu than, chống giữ lò chợ, vận tải và đào lò tại những khu vực điều kiện địa chất cho phép. Trong đó cơ giới hoá khai thác và áp dụng công nghệ vì neo trong đào lò đóng vai trò quan trọng.
Hiện nay, trong Tập đoàn có 13 đơn vị khai thác than hầm lò với 478 lò chợ hoạt động trong kỳ và 196 lò chợ khai thác đồng thời. Cùng với việc sản lượng khai thác hầm lò ngày càng tăng, số lượng mét đào lò của các đơn vị trong TKV cũng ngày một lớn. Nếu như năm 2014 mét lò đào toàn TKV là 175.000m thì năm 2015 tăng lên 295.000m. Trước yêu cầu đó, vấn đề áp dụng công nghệ mới, tiên tiến trong đào lò là rất cần thiết, trong đó công nghệ đào chống lò bằng vì neo sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ đào lò, giảm chi phí sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn cho người lao động. Thực hiện yêu cầu này, TKV đã chỉ đạo nghiên cứu, tổ chức chống lò bằng vì neo tại các đơn vị ngành Than như: Mông Dương, Mạo Khê, Vàng Danh, Dương Huy, Khe Chàm, Quang Hanh… Có thể khẳng định, đột phá quan trọng nhất của Tập đoàn là sau năm 2005, các đơn vị thành viên đã thực hiện chống vì thuỷ lực thay chống gỗ trong hầm lò, góp phần giảm tổn thất, tăng sản lượng lò chợ từ 50.000-60.000 tấn/năm lên 150.000-200.000 tấn/năm.
Đến nay, các đơn vị khai thác hầm lò của TKV đã làm chủ công nghệ và xây dựng được lực lượng cán bộ kỹ thuật có đủ trình độ, năng lực để thiết kế, chỉ đạo, giám sát việc thi công chống lò bằng vì neo. Nếu tính từ năm 1995 đến hết năm 2014, toàn Tập đoàn đã có 21.620mét lò được chống bằng vì neo, trong đó lò xây dựng cơ bản có 6.891m và lò chuẩn bị sản xuất là 14.639m. Tỷ lệ than khai thác các lò chợ có lò chợ sử dụng cột thuỷ lực đơn, giá chống/khung chống thuỷ lực di động so với tổng số than hầm lò đã đạt trên 95%. Nhìn chung các đơn vị đã chủ động đầu tư các thiết bị để đồng bộ dây chuyền đào lò, đầu tư đồng bộ dây chuyền thiết bị phục vụ thi công tại các hạng mục đường lò chính của các dự án. Được biết, TKV đang đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các công nghệ cơ giới hoá đồng bộ đã đầu tư tại Vàng Danh, Nam Mẫu, Khe Chàm, Uông Bí, Mạo Khê. Việc áp dụng thành công công nghệ lò này đã góp phần quan trọng trong lộ trình hiện đại hoá ngành công nghiệp khai thác khoáng sản và nâng cao sản lượng, mức độ an toàn, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.
Đặc biệt, trước những khó khăn do điều kiện địa chất phức tạp, khai thác than xuống sâu, áp lực lớn, tiềm ẩn nguy cơ TNLĐ, cháy, nổ khí mỏ dẫn đến tai nạn lao động, TKV chủ động áp dụng các giải pháp công nghệ trong sản xuất. Tiêu biểu như việc đưa hệ thống kiểm soát khí cháy nổ mê tan tự động vào trong hầm lò đã giúp Tập đoàn làm chủ trong việc đánh giá hàm lượng khí mê tan trong các vỉa than. Nhờ đó, hàng loạt hệ thống tự động quan trắc khí mê tan tập trung đã được đưa vào hoạt động ở hầu hết các mỏ hầm lò và được kết nối với mạng internet để giám sát từ xa. Việc thành lập Trung tâm An toàn mỏ cũng đã đưa trình độ công nghệ quản lý khí mỏ của TKV sánh ngang tầm các nước phát triển trên thế giới.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Ngọc Cơ, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn, Giám đốc Trung tâm điều hành Quảng Ninh cho biết: Đối với khai thác hầm lò, Tập đoàn tiếp tục hoàn thiện các công nghệ cơ giới hoá đồng bộ khai thác than lò chợ và tăng cường sử dụng đồng bộ thiết bị cơ giới hoá đào lò để tăng tốc độ đào lò chuẩn bị, sử dụng rộng rãi công nghệ chống như vì neo bê tông cốt thép, neo dẻo cốt thép, bê tông phun trong các đường lò. Đối với khai thác lộ thiên, Tập đoàn sẽ tiếp tục đầu tư thiết bị xúc bốc, vận tải có công suất lớn trong khai thác than lộ thiên để giảm chi phí. Đặc biệt, hiện nay Tập đoàn đang nghiên cứu trình tự khai thác đổ thải vùng Cẩm Phả, cơ cấu lại các mỏ Cao Sơn, Cọc Sáu, Đèo Nai để khai thác tối ưu, triệt để tài nguyên, nâng cao hiệu quả sản xuất. Nghiên cứu trình tự kết thúc khai thác các mỏ lộ thiên vùng Hòn Gai kết hợp hoàn thổ cải tạo phục hồi môi trường đạt hiệu quả cao nhất và giảm chi phí sản xuất. Đối với khâu sàng tuyển, chế biến than, Tập đoàn sẽ áp dụng công nghệ mới, tự động hoá tối đa các công đoạn để giảm ô nhiễm môi trường, giảm khâu lao động nặng nhọc cho người lao động…
Lê Hải