Trung đoàn 43, Sư đoàn 395, Quân khu 3

Lớp học ấm tình quân - dân

Những buổi tối ở bản Pò Hèn (xã Quảng Đức, tỉnh Quảng Ninh) thường chìm vào sự tĩnh mịch của núi rừng. Nhưng từ nhiều tháng nay, giữa sương mờ của vùng biên giới, ánh đèn nhà văn hóa bản vẫn sáng lên đều đặn vào mỗi buổi tối. Bên trong, tiếng đánh vần, tiếng đọc bài, tiếng bút chì sột soạt xen lẫn tiếng cười rộn rã của đồng bào dân tộc Dao tạo nên một không gian ấm áp lạ thường. Đó là hình ảnh quen thuộc của “Lớp học Tiếng Việt cho đồng bào” do cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395) tổ chức, một mô hình dân vận sáng tạo, nhân văn, gắn với thực hiện Đề án 57 của Bộ Quốc phòng về tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số trong tình hình mới.

Pò Hèn là bản vùng sâu, địa hình chia cắt, nơi đời sống kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Đồng bào nơi đây vốn cần cù, thật thà, nhưng trình độ dân trí không đồng đều; nhiều người lớn tuổi chưa đọc thông, viết thạo, thanh niên giao tiếp tiếng Việt còn hạn chế. Rào cản ngôn ngữ khiến việc tiếp cận thông tin, tiếp cận dịch vụ xã hội, thực hiện thủ tục hành chính hay nắm bắt các chính sách hỗ trợ của Nhà nước gặp nhiều trở ngại. Trong khi đó, địa bàn Quảng Đức là khu vực trọng điểm về quốc phòng - an ninh, có vai trò quan trọng trong công tác phòng chống tội phạm ma túy, buôn người, xuất nhập cảnh trái phép và giữ gìn an ninh biên giới.

Trước thực tế đó, đầu năm 2025, Đảng ủy - Chỉ huy Trung đoàn 43 đã chủ động khảo sát địa bàn, trao đổi với cấp ủy, chính quyền xã Quảng Đức và xác định cần triển khai mô hình dạy tiếng Việt nhằm giúp đồng bào nâng cao năng lực giao tiếp, tiếp nhận chủ trương, chính sách, đồng thời góp phần củng cố thế trận lòng dân. Đây cũng là một trong những nội dung cụ thể hóa tinh thần Đề án 57 của Bộ Quốc phòng, trong đó nhấn mạnh vai trò của Quân đội trong công tác tuyên truyền, vận động, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số.

Không chờ đợi thêm, Trung đoàn 43 đã cử tổ công tác gồm cán bộ chính trị, đoàn viên thanh niên và một số chiến sĩ trẻ trực tiếp xuống bản vận động bà con tham gia lớp học. Ban đầu, nhiều người e ngại vì “lớn tuổi rồi học không nổi”, “mình không biết chữ thì vào lớp xấu hổ lắm”. Nhưng bằng sự kiên trì giải thích, thuyết phục và tinh thần “ba cùng” với nhân dân, bộ đội đã dần làm thay đổi suy nghĩ ấy. Các chiến sĩ nói rõ với bà con: “Học để tự ký tên, để đọc thông báo của bản, để làm thủ tục hành chính thuận lợi hơn, để hiểu quyền lợi của chính mình. Không ai đánh giá, chỉ cần bà con cố gắng”.

Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 43 trong một buổi dạy học cho đồng bào nhân dân bản Pò Hèn, xã Quảng Đức, tỉnh Quảng Ninh.
Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 43 trong một buổi dạy học cho đồng bào nhân dân bản Pò Hèn, xã Quảng Đức, tỉnh Quảng Ninh.

Lớp học ban đầu chỉ có vài người, nhưng chỉ sau hai tuần đã thu hút hơn 30 học viên ở nhiều độ tuổi. Lớp học duy trì ba buổi mỗi tuần, từ 18 giờ 30 đến 20 giờ, thời điểm mà bà con đã kết thúc việc nương rẫy. Nhà văn hóa bản trở thành lớp học đơn sơ nhưng ấm tình quân - dân. Dưới ánh đèn vàng, những bàn tay thô ráp vì lao động nương rẫy cầm cây bút còn vụng về, từng nét chữ còn nghiêng ngả, nhưng ẩn chứa trong đó là khát vọng hiểu biết, khát vọng đổi thay. Bộ đội kiên trì hướng dẫn từng chữ cái, từng con số; chỉnh từng lỗi phát âm; động viên học viên cao tuổi không nản chí.

Nội dung giảng dạy được điều chỉnh phù hợp với trình độ và nhu cầu thực tiễn: đánh vần cơ bản, viết họ tên, đọc các thông báo của bản, nhận biết biển báo giao thông, hiểu các loại giấy tờ như căn cước công dân, sổ bảo hiểm y tế, giấy xác nhận tạm trú, tạm vắng. Đặc biệt, để giúp bà con “học đến đâu dùng được đến đó”, bộ đội thiết kế những bài tập đơn giản như điền thông tin cá nhân, viết giấy xin xác nhận, viết đơn vay vốn Ngân hàng Chính sách Xã hội, đọc hướng dẫn trồng rừng, đọc hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật… Chính sự gắn với đời sống thường ngày ấy khiến bà con cảm thấy lớp học không hề xa lạ.

Không khí lớp học ngày càng sôi nổi khi bộ đội lồng ghép các trò chơi đố vui chữ cái, thi đánh vần, nhận diện biển báo. Có tối, trẻ em trong bản theo bố mẹ đến lớp cũng ngồi phía sau ê a học theo. Một chiến sĩ trẻ chia sẻ rằng: “Nhiều cô bác nói chưa bao giờ nghĩ mình có thể viết được tên. Khi viết được rồi, họ vui hơn cả mình”. Niềm vui ấy chính là động lực để lớp học duy trì đều đặn, không vắng buổi nào trừ những ngày mưa lớn hoặc bản tổ chức lễ hội.

Một nét đặc biệt quan trọng làm nên hiệu quả của mô hình là mỗi buổi học đều lồng ghép nội dung tuyên truyền pháp luật, chính sách mới của Đảng và Nhà nước. Cán bộ chính trị Trung đoàn giải thích cho bà con cách phòng chống cháy rừng, phòng chống ma túy, nhận diện thủ đoạn của tội phạm buôn người, buôn bán trẻ em; hướng dẫn phòng tránh lừa đảo qua mạng; phổ biến Luật Biên giới quốc gia, các quy định về xuất nhập cảnh; tuyên truyền về chủ trương trồng rừng kinh tế, mô hình phát triển sinh kế bền vững. Việc tuyên truyền trực tiếp bằng tiếng Việt đơn giản, kết hợp minh họa bằng tranh ảnh, mô hình giúp bà con tiếp thu nhanh và hiểu rõ hơn. Đây cũng là yêu cầu cốt lõi của Đề án 57: nâng cao hiệu quả tuyên truyền bằng các hình thức phù hợp với đặc thù dân tộc, vùng miền.

Nhờ lớp học, nhiều thay đổi tích cực đã diễn ra ở Pò Hèn. Bà con tự tin hơn khi giao tiếp với cán bộ xã; nhiều người lần đầu tiên tự ký tên thay vì điểm chỉ. Một số hộ gia đình đã biết đọc hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh; biết làm hồ sơ đề nghị hỗ trợ phát triển sản xuất; biết ghi chép chi tiêu gia đình. Những buổi họp bản, bà con mạnh dạn phát biểu, trao đổi, đóng góp ý kiến. 

Công tác quản lý địa bàn cũng hiệu quả hơn. Lực lượng chức năng nhận được nhiều tin báo của người dân về nguy cơ cháy rừng, người lạ mặt xuất hiện bất thường hoặc dấu hiệu liên quan hoạt động vượt biên trái phép. Bà con hiểu rõ hơn trách nhiệm bảo vệ biên giới, cảnh giác trước âm mưu dụ dỗ, kích động của các đối tượng xấu. Đây là thành quả quan trọng của sự kết hợp giữa công tác dân vận và công tác tuyên truyền theo Đề án 57 - giúp người dân vừa nâng cao tri thức, vừa tăng cường ý thức bảo vệ Tổ quốc từ những việc nhỏ nhất.

Từ góc độ phát triển kinh tế - xã hội, lớp học tiếng Việt đóng vai trò như “chiếc cầu nối” giúp đồng bào tiếp cận đầy đủ hơn các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách hỗ trợ giảm nghèo, các mô hình sản xuất mới. Khi hiểu được thông tin, hiểu giấy tờ, hiểu hướng dẫn kỹ thuật, bà con dễ dàng áp dụng hơn vào sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế gia đình. Nhiều hộ đã chủ động đăng ký trồng rừng kinh tế, chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo khuyến cáo của cán bộ nông nghiệp. Tri thức dù nhỏ nhưng đã mở ra cánh cửa lớn cho sự thay đổi.

Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 43, Sư đoàn 395 thăm hỏi và tặng quà đồng bào nhân dân bản Pò Hèn, xã Quảng Đức, tỉnh Quảng Ninh.
Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 43, Sư đoàn 395 thăm hỏi và tặng quà đồng bào nhân dân bản Pò Hèn, xã Quảng Đức, tỉnh Quảng Ninh.

Từ thực tiễn mô hình ở Pò Hèn, cấp ủy, chính quyền xã Quảng Đức đánh giá rất cao vai trò của Trung đoàn 43. Chủ tịch UBND xã cho biết: “Lớp học của bộ đội không chỉ giúp dân biết chữ, mà còn giúp chúng tôi thuận lợi hơn trong quản lý địa bàn. Bà con hiểu, bà con hợp tác, thì mọi việc đều dễ”.

Sư đoàn 395 đang xem xét báo cáo đề nghị phối hợp với địa phương để nhân rộng mô hình ra các thôn, bản khác trong thời gian tới. Trung đoàn 43 cũng đã biên soạn bộ tài liệu giảng dạy đơn giản, dễ sử dụng, dự kiến chuyển giao cho đoàn viên thanh niên, dân quân xã để duy trì mô hình lâu dài.

Có thể khẳng định rằng, mô hình “Lớp học Tiếng Việt cho đồng bào” ở Pò Hèn đã mang lại hiệu quả nhiều mặt: chính trị, xã hội, kinh tế và quốc phòng - an ninh. Mỗi con chữ được viết lên là một bước tiến của đồng bào trong hành trình nâng cao dân trí; mỗi buổi học là một dịp để bộ đội và nhân dân gắn bó chặt chẽ hơn; mỗi nội dung tuyên truyền là một “lá chắn mềm” bảo vệ vững chắc vùng biên cương Tổ quốc. Mô hình cũng là minh chứng rõ nét về vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiện công tác dân tộc, công tác dân vận, nhất là trên địa bàn chiến lược, đúng tinh thần Nghị quyết của Quân ủy Trung ương và yêu cầu của Đề án 57.

Giữa núi rừng mờ sương của Pò Hèn, ánh sáng của lớp học mỗi tối như thắp lên niềm tin mới vào khát vọng vươn lên của đồng bào; vào sự bình yên, ổn định và phát triển của vùng biên cương Tổ quốc. Với sự kiên trì, tận tụy và tình cảm quân - dân sâu nặng, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 43 đang góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, góp phần giữ vững chủ quyền biên giới và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới.

Cùng chuyên mục