Người "mở đường" số hóa trên tuyến biên giới Đông Bắc

Hơn 25 năm trong quân ngũ, Thượng tá Lê Duy Thắng, cán bộ Phòng Tham mưu, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã luôn miệt mài tham mưu các giải pháp ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới, cửa khẩu... Những sáng kiến của anh không chỉ rút ngắn thời gian làm thủ tục xuất nhập cảnh (XNC) mà còn góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.

Thượng tá Lê Duy Thắng, cán bộ Phòng Tham mưu (người ngồi) trao đổi công việc chuyên môn với đồng đội. 
Thượng tá Lê Duy Thắng, cán bộ Phòng Tham mưu (người ngồi) trao đổi công việc chuyên môn với đồng đội. 

Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội, năm 1999, chàng sinh viên trẻ Lê Duy Thắng được nhận vào công tác tại Đồn BPCK cảng Hòn Gai. Cuối những năm 1990, tại cửa khẩu cảng Hòn Gai máy tính còn rất ít, việc tiếp nhận thường xuyên danh sách hành khách qua thư điện tử các hãng tàu biển từ Hồng Kông gửi cho Đồn đã mở ra cho anh Thắng một cách nghĩ mới: Công nghệ không chỉ thay giấy bút, mà còn có thể rút ngắn quy trình, chuẩn hóa thông tin, giúp kiểm soát cửa khẩu chính xác hơn.

Từ đó, anh đã chủ động nghiên cứu, tham mưu triển khai mạng máy tính và tổ chức tập huấn sử dụng mạng internet cho lãnh đạo, chỉ huy đến cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ. Thiết bị thiếu, kỹ năng chưa đồng đều, anh kiên trì hướng dẫn từng phần việc. Với anh, hạ tầng chỉ thực sự có giá trị khi người sử dụng làm chủ được công nghệ.

Đến năm 2005, khi được chuyển công tác tại Đồn BPCK quốc tế Móng Cái, nhận thấy quy trình kiểm soát thủ công qua sổ sách tốn quá nhiều thời gian và tiềm ẩn nguy cơ bỏ sót đối tượng, anh đã mạnh dạn nghiên cứu và đề xuất cấp trên ứng dụng mã vạch lên giấy thông hành. Sáng kiến này giúp thời gian kiểm chứng rút ngắn xuống chỉ còn khoảng 10 giây cho mỗi cá nhân và được đưa vào thí điểm thành công khoảng năm 2007 và sau đó từng bước được nhân rộng.

Trải qua quá trình cọ xát thực tế, anh nhận thức sâu sắc rằng thiết bị máy móc chỉ là công cụ, cốt lõi của bài toán số hóa phải nằm ở việc xây dựng và quản trị cơ sở dữ liệu xuất nhập cảnh. Từ đó, anh đề xuất cấp trên trao đổi, thống nhất với lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới, cửa khẩu nước bạn chuẩn hóa dữ liệu tên người từ chữ Hán sang chữ Latinh để đồng nhất hệ thống giữa Việt Nam và Trung Quốc. Việc làm này đã mang lại hiệu quả tích cực, giải quyết triệt để những bất cập do rào cản ngôn ngữ mang lại.

Năm 2018, đánh dấu một cột mốc quan trọng khi Quảng Ninh trở thành đơn vị tiên phong thí điểm mô hình cổng kiểm soát xuất nhập cảnh tự động, dựa trên những nỗ lực tham mưu bền bỉ suốt nhiều năm của anh. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại các cửa khẩu, tạo sự thuận lợi tối đa cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Nay hệ thống tại Cửa khẩu quốc tế Móng Cái tích hợp nhận diện khuôn mặt, vân tay, rút thời gian làm thủ tục cho mỗi hành khách xuống khoảng 7-12 giây. Phía sau sự thông thoáng ấy là khả năng kiểm soát dữ liệu, phát hiện nhanh trường hợp vi phạm.

Đối diện với đặc thù địa hình biên giới, vùng biển rộng lớn và phức tạp của tỉnh, tại Phòng Tham mưu, Thượng tá Lê Duy Thắng tiếp tục tham mưu xây dựng hạ tầng camera giám sát đồng bộ, đồng thời định hướng sử dụng máy bay không người lái phục vụ công tác định vị, tìm kiếm cứu nạn trên biển.

Anh còn trực tiếp tham gia nghiên cứu, đề xuất các giải pháp kỹ thuật phục vụ mô hình "Cửa khẩu thông minh", tăng cường khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu liên thông giữa các lực lượng chức năng. Nhằm ngăn chặn quyết liệt tình trạng khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU), anh đã tham mưu triển khai việc kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với hệ thống của ngành thủy sản, đảm bảo quy trình quản lý khép kín từ lúc tàu cá xuất bến đến khi nhập bến...

Những đóng góp của Thượng tá Lê Duy Thắng cho thấy phẩm chất của người cán bộ tham mưu giỏi không chỉ cần am hiểu sâu sắc cả nghiệp vụ lẫn công nghệ, mà còn cần sự bền bỉ, không ngừng học hỏi vì bình yên nơi biên cương.

Cùng chuyên mục