Trung tâm Khoa học và Sản xuất giống thuỷ sản Quảng Ninh: Góp phần thúc đẩy nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển

Trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu, tuyển chọn, sản xuất và thử nghiệm thành công nhiều giống mới, Trung tâm Khoa học và Sản xuất giống thuỷ sản Quảng Ninh đã thực hiện đạt hiệu quả cao công tác đào tạo nghề nuôi trồng thuỷ sản cho lao động nông thôn, hỗ trợ khoa học kỹ thuật cho người nuôi, góp phần thúc đẩy nghề nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh phát triển bền vững.

Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm kiểm tra cá rô phi đơn tính Cát Phú bố mẹ.
Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm kiểm tra cá rô phi đơn tính Cát Phú bố mẹ.

Trong năm 2013 và 2 tháng đầu năm nay, Trung tâm đã sản xuất được trên 90 triệu con giống các loại cung ứng cho người nuôi thuỷ sản trong và ngoài tỉnh. Ngoài ra, Trung tâm còn phối hợp với chuyên gia Đài Loan sản xuất cá rô phi đơn tính giống bằng phương pháp lai xa với sản lượng 50-60 triệu con/năm; phối hợp với chuyên gia nước ngoài khác tuyển chọn, sản xuất thành công giống cá rô phi Cát Phú; đưa vào nuôi thành công giống cá đối mục; cá chép tam bội. Cá rô phi Cát Phú có tốc độ phát triển nhanh, vượt trội so với giống cá rô phi thường, có thể rút ngắn thời gian nuôi từ 6 tháng xuống 4 tháng, trọng lượng trung bình đạt 0,5-0,6kg/con. Cá rô phi Cát Phú có đầu nhỏ, mình dày, tỷ lệ thịt lớn, có khả năng chịu lạnh tốt và có thể nuôi qua đông. Cá đối mục sinh trưởng tốt ở môi trường nước lợ, mặn và chịu được nhiệt độ từ 3-35oC, là đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên của Quảng Ninh. Đặc biệt, hiện nay Trung tâm đang triển khai thực hiện mô hình cá chép tam bội bằng việc cho lai giữa cá chép cái Nhật Bản tứ bội với cá chép đực vàng lưỡng bội. Cá chép tam bội có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cá chép lai từ 30-50%. Cá có sức đề kháng cao, khả năng kháng bệnh tốt; chịu rét tốt ở nhiệt độ từ 5-10oC; khả năng thích ứng rộng...

Cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu, tuyển chọn và sản xuất thành công nhiều giống cá mới, Trung tâm đã triển khai nhiều hoạt động khoa học công nghệ nhằm giúp người dân có kiến thức, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng thuỷ sản đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tiêu biểu như: Đề tài nghiên cứu, ứng dụng nuôi cá thát lát cườm tại Quảng Ninh; nghiên cứu, ứng dụng nuôi cá rô đầu vuông; tiếp tục triển khai dự án Ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng mô hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá đối mục với hai mô hình đang triển khai tại Tiên Yên. Hiện nay, Trung tâm tiếp tục triển khai 2 dự án “Tạo lập và quản lý thương hiệu ghẹ Trà Cổ cho sản phẩm ghẹ của Móng Cái” và “Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể tôm chân trắng cho sản phẩm tôm chân trắng của Móng Cái”. Cùng với đó, Trung tâm đã xây dựng 4 mô hình ương giống thuỷ sản nước ngọt tại TX Quảng Yên; 16 mô hình nuôi thương phẩm cá nước ngọt, cá rô đồng, nuôi rươi kết hợp với cáy đồng tại một số hộ dân sống ven sông Cầm (Đông Triều); 3 mô hình nuôi nhuyễn thể ở Vân Đồn… Đến nay, các mô hình, dự án này đã được triển khai nhân rộng tại nhiều địa phương trong tỉnh, cho hiệu quả kinh tế cao.

Với đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức 68 người, trong đó có 2 thạc sĩ và 34 kỹ sư chuyên ngành nuôi trồng thuỷ sản và hệ thống cơ sở vật chất được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, Trung tâm còn thực hiện đạt hiệu quả cao chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Ông Vũ Công Tâm, Phó Giám đốc Trung tâm cho biết: Năm 2013, Trung tâm đã chiêu sinh và đào tạo được 7 lớp học nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn. Ngoài ra, Trung tâm còn phối hợp với Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc và Đoàn Kinh tế Quốc phòng 327 tổ chức 5 lớp tại các địa phương Quảng Yên, Đông Triều, Móng Cái… nhằm tập huấn cho người dân những kiến thức và kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản, kỹ năng nhận biết và kiểm tra chất lượng con giống, môi trường, phòng trừ dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản. 

Đặc biệt, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề cho người dân, Trung tâm đã ứng dụng phương pháp đào tạo, dạy nghề theo phương pháp Modoul. Đây là phương pháp đào tạo, dạy nghề có tính ứng dụng thực tế cao với 30% thời gian học lý thuyết và 70% thời gian thực hành; phương pháp tiếp cận và chia sẻ thông tin, kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản của giáo viên với học viên dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với trình độ của các học viên. Cùng với đó, các vấn đề thảo luận được thực hiện ngay tại ao đầm của gia đình học viên đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Công tác đào tạo nghề, hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật cho người dân đã góp phần thúc đẩy nghề nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh mẽ, hướng tới phát triển bền vững.

Hữu Việt

Cùng chuyên mục