Tự chủ kinh phí tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Gian nan khi "tự bơi"

Mục tiêu của thực hiện tự chủ kinh phí các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm tăng cường tính tự chủ, nâng cao chất lượng dịch vụ, thay đổi phương thức từ cấp phát, phân bổ ngân sách theo sản phẩm “đầu vào” trước đây sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ theo sản phẩm “đầu ra” đối với các đơn vị. Trên cơ sở đó, Quảng Ninh đã tập trung từng bước triển khai các nghị định của Chính phủ về công tác tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp. Tuy nhiên, quá trình thực hiện giao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ khi thực hiện tự chủ kinh phí, Trung tâm Khoa học sản xuất giống thuỷ sản nợ lương 388 triệu đồng, nợ BHXH 990 triệu đồng (tính đến hết tháng 9-2016).
Từ khi thực hiện tự chủ kinh phí, Trung tâm Khoa học sản xuất nông lâm nghiệp nợ lương 351 triệu đồng, nợ BHXH 448 triệu đồng (tính đến hết tháng 9-2016).

Nợ lương, nợ BHXH

Theo thông tin của Sở Tài chính, đến nay, UBND tỉnh đã phân loại và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính năm 2016 cho 49 đơn vị sự nghiệp công lập với mức tự chủ tài chính từ 20% đến 100% chi thường xuyên, gồm: 21 đơn vị tự chủ 100%, 1 đơn vị tự chủ 70%, 1 đơn vị tự chủ 60%, 13 đơn vị tự chủ 50%, 6 đơn vị tự chủ 30%, 7 đơn vị tự chủ 20%. Bên cạnh đó, còn có 9 đơn vị thực hiện tự chủ 100% về tài chính theo Nghị định số 43/206/NĐ-CP từ năm 2013 trở về trước.

Tuy nhiên, khi dứt “bầu sữa mẹ”, nhiều đơn vị rơi vào tình cảnh khốn khó, nợ lương, nợ BHXH. Sở NN&PTNT có 4 đơn vị tự chủ, chịu trách nhiệm 100% về kinh phí hoạt động, 1 đơn vị thực hiện tự chủ 50%, 1 đơn vị thực hiện tự chủ 70%. Tuy nhiên, từ khi tự chủ các đơn vị đều gặp rất nhiều khó khăn. Đến hết tháng 9-2016, Trung tâm Khoa học sản xuất nông lâm nghiệp nợ lương 351 triệu đồng, nợ BHXH 448 triệu đồng; Trung tâm Khoa học sản xuất giống thuỷ sản nợ lương 388 triệu đồng, nợ BHXH 990 triệu đồng.

Không riêng gì các đơn vị ở ngành Nông nghiệp, đến hết tháng 9-2016, nhiều đơn vị nợ lương như: Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản, Sở Tư pháp nợ 78 triệu đồng; Đoàn Nghệ thuật chèo nợ 232 triệu đồng; Đoàn Nghệ thuật cải lương nợ 274 triệu đồng; Đoàn Kịch nợ 257 triệu đồng; Ban Quản trị khu văn công, Sở Văn hoá - Thể thao nợ 61 triệu đồng; Trung tâm Xúc tiến thương mại, Sở Công thương nợ 88 triệu đồng; Trung tâm Hỗ trợ phát triển HTX và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Liên minh HTX tỉnh nợ 105 triệu đồng; Trường Trung học kinh tế, Sở Tài chính nợ 283 triệu đồng.

Trưởng Đoàn Nghệ thuật cải lương Quảng Ninh, NSƯT Nguyễn Văn Chương phân trần: Năm 2016, Đoàn bị cắt giảm ngân sách 50%. Trước sức ép của việc phải tự lo 50% kinh phí hoạt động khiến Đoàn phải đối mặt với hàng loạt vấn đề nan giải như: Thu nhập cho diễn viên; đầu tư dài hơi cho các tác phẩm nghệ thuật chất lượng chứ không chạy theo thị hiếu dễ dãi..., trong khi đặc thù của loại hình sân khấu nghệ thuật này rất kén khán giả và ít “đất diễn” nên việc “lấy nghệ thuật nuôi nghệ thuật” quả thật gian nan...

Là đơn vị cố gắng tự chủ để đảm bảo việc làm cho người lao động và không nợ lương, nợ BHXH nhưng Trung tâm Dịch vụ việc làm, Sở LĐ-TB&XH tỉnh cũng gặp không ít khó khăn. Ông Phạm Ngọc Khánh, Giám đốc Trung tâm cho biết: Nhiệm vụ chính của Trung tâm là cung cấp dịch vụ việc làm, trong khi tỉnh đang khuyến khích các doanh nghiệp tham gia giao dịch để nâng cao chất lượng hoạt động giao dịch việc làm, nên chưa thực hiện thu phí dịch vụ cung ứng tuyển lao động. Vì thế, nếu đơn vị được thu phí dịch vụ này thì đơn vị sẽ không còn quá khó khăn khi tự chủ.

Bĩ cực hơn là Trung tâm Giới thiệu việc làm thanh niên Quảng Ninh, sau khi thực hiện tự chủ kinh phí năm 2015 đã không có nguồn thu và nợ BHXH tới 170 triệu đồng. Thực hiện Đề án 25 của tỉnh, đến tháng 5-2016, Trung tâm đã thực hiện giải thể. Tuy nhiên, khi giải thể, Trung tâm không còn tư cách pháp lý giải quyết chế độ cho viên chức, lao động. Vì thế, quyền lợi của cán bộ, viên chức Trung tâm hiện vẫn đang bị treo.

Từ khi “ra ở riêng”, cuộc sống các phòng công chứng của tỉnh cũng đầy khó khăn. Ông Ngô Hồng Hải, Phó Trưởng Phòng công chứng số 2 của tỉnh cho biết: Đơn vị phải tự chủ 100% kinh phí. Chi phí hoạt động, nguồn kinh phí chi trả lương và chế độ cho CBVC-LĐ của đơn vị phụ thuộc vào mức thu phí công chứng. Trong đó, số tiền phải nộp vào ngân sách nhà nước là 50% số tiền thu phí nói trên theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Tổng số tiền của 50% phí công chứng để lại được dùng vào việc thanh toán chi trả lương, tiền bảo hiểm cho cán bộ, viên chức và chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, công tác phí cho đơn vị. Có tháng đơn vị còn chậm trả lương cho người lao động. Để bám trụ được với nghề, họ phải kiếm việc làm thêm ngoài giờ. Nguồn thu lệ phí công chứng thì hiện không tăng mà còn nguy cơ suy giảm bởi các giao dịch vay vốn, mua bán chuyển nhượng đất đai suy giảm...

Định kỳ hằng tháng, Trung tâm Dịch vụ việc làm, Sở LĐ-TB&XH tỉnh tổ chức sàn giao dịch việc làm tại TP Hạ Long.
Định kỳ hằng tháng, Trung tâm Dịch vụ việc làm, Sở LĐ-TB&XH tỉnh tổ chức sàn giao dịch việc làm tại TP Hạ Long.

Đâu là nguyên nhân?

Vậy thì đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều đơn vị khi “tự bơi” lại “hụt hơi” và “chết chìm” như vậy. Thực tế, đây là hệ luỵ của cả một quá trình bao cấp ngân sách quá lâu dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại của các đơn vị. Cho nên trong quá trình tổ chức thực hiện tự chủ tài chính, các đơn vị vẫn mang tư tưởng trông chờ, chưa tích cực, chủ động trong việc khai thác nguồn thu. Bên cạnh đó, năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, quản lý ở nhiều đơn vị còn hạn chế, chậm đổi mới, nên một số đơn vị còn gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu khi được giao tự chủ, nhất là các đơn vị sự nghiệp công lập trước đây hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ mang tính độc quyền, ít có cạnh tranh. Các đơn vị chưa tạo ra các sản phẩm, dịch vụ công đáp ứng nhu cầu sử dụng của Nhà nước và xã hội. Một số đơn vị chưa tích cực, chủ động xây dựng phương án tổ chức các hoạt động dịch vụ phù hợp, chưa thực hiện tốt công tác sắp xếp lại tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế và phải cạnh tranh với các đơn vị khác trên địa bàn nên nguồn thu còn hạn chế, không đủ để đảm bảo chi thường xuyên ở mức tối thiểu, nhất là chi lương và các khoản có tính chất lương cho cán bộ, viên chức.

Cơ chế đặt hàng được coi là giải pháp hữu hiệu nhất để các đơn vị tự chủ kinh phí, thế nhưng nhiều đơn vị vẫn lúng túng trong việc thực hiện cơ chế đặt hàng như Trung tâm Thông tin và Xúc tiến du lịch (Sở Du lịch); Trung tâm Xúc tiến thương mại (Sở Công thương)... Một số ngành dù đã được tỉnh phê duyệt danh mục đặt hàng nhưng chưa tích cực, chủ động xây dựng phương án, kế hoạch tổ chức đặt hàng trình UBND tỉnh phê duyệt như Sở Văn hoá - Thể thao, Sở Ngoại vụ nên năm 2015, 2016 các đơn vị trên không triển khai được công tác đặt hàng cho các đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Các ngành, địa phương chưa thực sự vào cuộc quyết liệt để xây dựng danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi của ngành, địa phương. Cùng với đó, các định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn ngành nghề... là điều kiện để thực hiện quyền tự chủ của các đơn vị sự nghiệp đã lạc hậu hay còn thiếu, chậm sửa đổi, bổ sung, ban hành. Mặt khác, việc xây dựng bổ sung các định mức kinh tế - kỹ thuật rất phức tạp, vì vậy việc xác định đơn giá đặt hàng với các đơn vị còn nhiều khó khăn...

Theo ông Hoàng Vân, Phó Trưởng Phòng Tài chính - Hành chính sự nghiệp, Sở Tài chính, thực tế, kinh phí để chi trả lương và các khoản đóng góp năm 2016 của các đơn vị này cơ bản vẫn sử dụng từ nguồn ngân sách cấp, không thực hiện được mức tự chủ theo lộ trình phê duyệt tại Đề án 25 (tự chủ 100%)... Hầu hết các đơn vị đề nghị UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí để chi trả lương và BHXH cho người lao động. Việc tự chủ kinh phí của các đơn vị gần như vẫn chỉ nằm trên giấy.

Theo các chuyên gia tài chính, hệ thống chính sách về quản lý và phương thức hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công lập chưa được đổi mới đồng bộ; nhiều bộ, ngành chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực và danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước, khiến UBND tỉnh chưa có cơ sở để triển khai thực hiện. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây khó cho các đơn vị khi triển khai.

THANH HẰNG


Bài 2: Để tự đứng vững khi dứt “bầu sữa ngân sách”

Cùng chuyên mục