So với các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Bắc, Quảng Ninh là địa bàn năng động, có bước phát triển khá ngoạn mục trong những năm gần đây. Tuy nhiên, trong bước phát triển có tính đột phá đó, tỉnh cũng đã và đang phải đối mặt với những thách thức, xung đột lớn. Chính vì vậy, ngay từ những năm đầu của nhiệm kỳ này Quảng Ninh đã tập trung cho mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, theo hướng phát triển từ “nâu” sang “xanh”.
Quy hoạch nền tảng do tư vấn ngoại lập
Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm (2011-2015), thực hiện mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng Quảng Ninh đã vấp phải nhiều khó khăn. Đó là tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tài nguyên than, đất, sức lao động giá rẻ và đầu tư công. Theo tính toán của cơ quan chuyên môn, năm 2011 ngành Than chiếm tới 67% trong tỷ trọng GDP của tỉnh, 2/3 nguồn thu phần thu nội địa là từ than và đất với số thu đạt khoảng 7.000 tỷ đồng, các nhà đầu tư đến với Quảng Ninh chủ yếu là do lợi thế của địa bàn biên giới và lao động giá rẻ. Tăng trưởng GDP phụ thuộc rất lớn vào đầu tư từ nguồn vốn ngân sách và đầu tư xây dựng của các dự án công trình trên địa bàn. Nhất là đối với một địa bàn có ưu thế đầu tư rất lớn, nhưng Quảng Ninh lại thiếu đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông mang tính chiến lược, động lực như sân bay, đường sắt, đường cao tốc, cảng biển.
Để khắc phục những hạn chế này, thực hiện có hiệu quả mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, giảm việc phụ thuộc vào những tài nguyên hữu hạn như than, đất sang tăng trưởng theo hướng phát huy những giá trị vô hạn của dịch vụ du lịch, văn hoá, lịch sử truyền thống, thương mại mậu dịch biên giới và phát triển kinh tế biển, năm 2012 Quảng Ninh tập trung cho công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược phát triển. Các quy hoạch quan trọng, tạo nền tảng được tập trung lập và triển khai thực hiện dưới sự tư vấn của các nhà tư vấn ngoại như Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030 do Tập đoàn Mckinsey (Mỹ) lập; quy hoạch vùng tỉnh do Công ty TNHH Nikken Sekkei (Nhật Bản) lập; quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, du lịch do Tập đoàn Boston - BCG (Mỹ) lập. Cùng với đó, các quy hoạch ngành, địa phương cũng được thực hiện dưới sự tư vấn của các đơn vị tư vấn mang tầm cỡ quốc tế.
Đồng chí Trần Đức Lâm, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư cho biết: Việc tăng cường các đơn vị tư vấn nước ngoài tham gia lập, phản biện các quy hoạch quan trọng, quy hoạch ngành, địa phương nhằm tranh thủ kinh nghiệm quý báu của các đơn vị tư vấn có kinh nghiệm, trình độ và tạo tiền đề hấp dẫn thu hút nguồn lực đầu tư nước ngoài.
Song, cùng với việc triển khai lập quy hoạch, tỉnh đã xây dựng đề án “Phát triển KT-XH nhanh, bền vững; bảo đảm vững chắc quốc phòng an ninh và thí điểm xây dựng hai đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái” và Đề án “Xây dựng Đặc khu kinh tế Vân Đồn”. Bên cạnh đó, đã mạnh dạn nghiên cứu, thí điểm và từng bước áp dụng các mô hình quản lý: “Lãnh đạo công, quản trị tư”, “đầu tư công, quản lý tư”, “sử dụng công, đầu tư tư” cho việc xây dựng, vận hành các khu kinh tế, khu công nghiệp, các thiết chế văn hoá... qua đó nâng cao hiệu quả nhiều mặt.
Gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính
Nhiệm vụ cải cách hành chính dù đã được tỉnh Quảng Ninh đặt ra và thực hiện trong rất nhiều năm trước đây nhưng những rối rắm, phiền hà không thể chỉ gỡ từ cung cách làm việc của cán bộ quản lý nhà nước mà phải là ở thể chế, ở sự thay đổi hẳn về nhận thức rõ bản chất, tư duy gỡ rối. Chính vì vậy, đẩy mạnh cải cách hành chính được Quảng Ninh xác định trọng tâm là thủ tục hành chính, từ đây bước đầu xây dựng thành công Trung tâm hành chính công của tỉnh và ở 5 địa phương trọng điểm (Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả, Vân Đồn, Móng Cái). Với tổng số 983 thủ tục hành chính (TTHC) thuộc 115 lĩnh vực được rà soát đưa vào các trung tâm HCC, riêng Trung tâm HCC tỉnh có 457/1.385 với 53 lĩnh vực của 19 sở, ngành, trong đó có 136 TTHC được thực hiện theo nguyên tắc thẩm định và phê duyệt tại chỗ.
Bên cạnh gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính, để tạo môi trường đầu tư thực sự minh bạch và hấp dẫn, năm 2012 tỉnh mạnh dạn thành lập Ban Xúc tiến và hỗ trợ đầu tư - cơ quan đầu mối chuyên trách về lĩnh vực này. Đồng thời tăng quyền chủ động cho các địa phương, theo Đề án phân cấp về quản lý nhà nước và giao quyền chủ động cho các địa phương, gắn với cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát trên các lĩnh vực quản lý đất đai, xây dựng, đầu tư... Cách làm này bước đầu làm thí điểm tại TP Hạ Long đã chứng tỏ hiệu quả rõ rệt, vì vậy đang được tiếp tục nhân rộng sang các địa phương khác.
Tạo đột phá về hạ tầng
Để có được kết cấu hạ tầng đồng bộ, có các công trình động lực, tạo sức lan toả trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới, trong nước từ năm 2012 suy giảm nghiêm trọng là việc vô cùng khó đối với bất kỳ địa phương nào. Trong bối cảnh này tỉnh Quảng Ninh đã tiến hành rà soát, đình hoãn, giãn tiến độ đối với các dự án chưa cấp bách, cấp thiết để tập trung nguồn lực cho một số công trình dự án quan trọng như: Hệ thống đường giao thông huyết mạch kết nối vùng với các khu kinh tế cửa khẩu; đưa điện lưới ra đảo Cô Tô nhằm phát triển du lịch và phát triển thuỷ sản gắn với bảo vệ chủ quyền biên giới biển.
Khẳng định quyết tâm tạo hệ thống hạ tầng đồng bộ, kết nối, tỉnh đã huy động và ứng vốn ngân sách trên 1.700 tỷ đồng để hoàn thành dứt điểm các tuyến đường huyết mạch, động lực cho phát triển các địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa như: QL18C lên cửa khẩu Hoành Mô, tỉnh lộ 340 lên cửa khẩu Bắc Phong Sinh, tỉnh lộ 329 đoạn Mông Dương - Ba Chẽ; hoàn thành đầu tư xây dựng hệ thống lưới điện quốc gia khu vực nông thôn... Đồng thời đa dạng hoá các hình thức đầu tư, chuyển đổi hình thức đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước sang các hình thức đầu tư PPP, BOT đối với một số dự án động lực như: Nâng cấp cải tạo QL18A đoạn Uông Bí - Hạ Long; đường nối TP Hạ Long với đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng…
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Quản Ninh đang vận hành bước đầu nhưng hiệu quả mang lại đã và đang có những kết quả rõ nét. Đó là hệ thống cơ sở hạ tầng từng bước được hoàn thiện, các dự án đầu tư trọng điểm được xúc tiến hoàn thiện và có đóng góp cho thu ngân sách nhà nước. Điều quan trọng nhất là từ phát triển “nóng” phụ thuộc vào than và đất đã được chuyển đổi rất tích cực sang tăng trưởng xanh với con số minh chứng rất cụ thể, năm 2013 than chỉ còn chiếm 51% trong tỷ trọng thu ngân sách nội địa và số thu của Quảng Ninh (phần nội địa) đã đạt gần 8.000 tỷ đồng (vượt khoảng 1.000 tỷ đồng so với năm 2011).
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh” phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới hiện nay cũng là khẳng định thương hiệu mới của Quảng Ninh.
Ngọc Lan