Trong những năm qua ngành Nông nghiệp Quảng Ninh đã phát huy nội lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh, không ngừng đổi mới để phát triển toàn diện trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Trong 5 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng và kinh tế của ngành nông nghiệp là 5,4%/năm.
Sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách phát triển một cách bền vững. Trong trồng trọt đã thực hiện hiệu quả các chương trình chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, đưa tiến bộ KHKT vào sản xuất. Qua đó đã đưa năng suất sản lượng tăng khá nhanh đảm bảo cân đối lương thực cho khu vực nông thôn rộng lớn. Mặc dù diện tích gieo trồng cây nông nghiệp ngày càng giảm, nhưng tổng sản lượng cây có hạt luôn ổn định mức 227.000 đến 230.000 tấn hàng năm, năng suất lúa bình quân đạt 44,7 tạ/ha. Từ chương trình phấn đấu giành danh hiệu “cánh đồng 50 triệu”, đến nay giá trị sản phẩm trồng trọt và nuôi thuỷ sản đã đạt bình quân 47 triệu đồng/ha.
Cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã có sự chuyển biến mạnh, qua đó hình thành một số vùng chuyên canh như 8.956ha cây ăn quả (riêng vải, nhãn chiếm 71%); trong đó có hơn 300ha vải chín sớm ở hai xã Bình Khê (Đông Triều) và Phương Nam (Uông Bí); 700ha na dai và 300ha củ đậu ở xã Việt Dân, An Sinh (Đông Triều); 1.170ha chè tập trung ở Hải Hà, Đầm Hà với 500ha chè kinh doanh và 670ha chè trồng mới. Một số địa phương như Đông Triều, Hoành Bồ, Hạ Long, Cẩm Phả đã xây dựng thành công các mô hình trồng rau, hoa theo hướng công nghệ cao, có giá trị thu nhập từ 500 đến 800 triệu đồng/năm. Các mô hình chăn nuôi trang trại mang tính sản xuất hàng hoá ngày càng có quy mô lớn. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp từ 32,4% (năm 2005) đã lên đến 38% năm 2009. Những năm gần đây, đàn gia súc tăng bình quân 2,5%. Đến nay đàn lợn duy trì mức 377.500 con; đàn trâu bò trên 100.000 con và đàn gia cầm gần 2,5 triệu con; sản lượng thịt hơi đạt khoảng 45.066 tấn. Hiện toàn tỉnh có 18 cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung có quy mô từ 1 đến 2 vạn con và có 2 trại chăn nuôi lớn quy mô công nghiệp. Quảng Ninh hiện có 30 trang trại nuôi nuôi lợn thịt; 53 trang trại chuyên nuôi bò; 13 trang trại nuôi gia cầm quy mô từ 2.000 đến 8.000 con. Trong 5 năm gần đây tỉnh đã trồng được 74.396ha rừng, bình quân mỗi năm trồng 14.879ha qua đó diện tích đất trống đồi núi trọc đã thu hẹp đáng kể. Đến nay diện tích đất rừng toàn tỉnh đã đạt 301.752ha, trong đó rừng trồng 152.560ha; độ che phủ 45,2% năm 2005 đến nay đã tăng lên trên 50%. Đã có sự chuyển đổi tích cực sang lâm nghiệp xã hội nên phát huy cao lợi ích đất rừng. Riêng năm 2009, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt 68.370m3; thu mua 11.000 tấn nhựa thông, cung cấp 126.000m3 cho dịch vụ gỗ trụ mỏ; tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nhựa thông được 7,5 triệu USD. Về thuỷ sản đến nay toàn tỉnh có 12.205 tàu đánh bắt thuỷ sản. Năm 2010 tổng sản lượng thuỷ sản đạt 78.562 tấn trong đó đánh bắt 51.240 tấn, nuôi trồng 27.332 tấn, giá trị xuất khẩu đạt 46 triệu USD. Sản phẩm xuất khẩu của Quảng Ninh đã có chỗ đứng ở các thị trường Nhật Bản, Hồng Kông, Tây Âu và Bắc Mỹ. Trong những năm gần đây lĩnh vực thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng cao nhờ làm tốt quy hoạch và mở rộng quy mô vùng nuôi, ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất con giống và nuôi trồng. Nhiều loại thuỷ sản có giá trị cao như tôm sú, cá song, cá giò, tu hài, ba ba đã mang lại nguồn lợi lớn cho các hộ nuôi trồng thuỷ sản.
Những năm gần đây việc đầu tư vào công nghiệp chế biến nông - lâm sản ngày càng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Toàn tỉnh hiện có 605 cơ sở chế biến nông - lâm sản, trong đó có 7 công ty chế biến gỗ với công suất 20.000m3 thành phẩm hàng năm và hàng trăm cơ sở chế biến khác với công suất từ 7 đến 9.000m3/năm. Đồng thời còn có 3 công ty sản xuất dăm giấy công suất 340.000 tấn/năm. Các sản phẩm khác như ván ghép thanh 2.000m3/năm, ván MDF 5.000m3/năm, chế biến chè 3.000 tấn/năm; nhựa thông 9.000 tấn/năm; sản xuất giấy và các sản phẩm có liên quan đến giấy là 10.500 tấn hàng năm. 3 cơ sở chế biến thức ăn công nghiệp công suất 3.000 tấn. Tỉnh có 6 nhà máy chế biến thuỷ sản với dây chuyền công nghệ khá hiện đại cho ra sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu cho một số thị trường khó tính.
Từ những phác thảo trên cho thấy sản phẩm của ngành nông nghiệp rất dồi dào và phong phú, vì thế đặt ra vấn đề xúc tiến thương mại cần được phát triển lên tầm cao hơn. Song vì hiện tại chưa có chính sách đầu tư cho nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước nên việc tự thân vận động của các doanh nghiệp có sản phẩm nông nghiệp cần tiêu thụ luôn bị động và đôi khi có những rủi ro hoặc không mang lại hiệu quả kinh tế cao như giá trị và chất lượng hàng hoá mà mình có. Các mặt hàng nông nghiệp tiêu thụ trên thị trường nội địa, phải đối mặt với những biến động và chấp nhận giá bán mang lại giá trị thấp. Đến nay hầu như chưa có chính sách đầu tư thích đáng để hỗ trợ phát triển công nghệ sản xuất các mặt hàng có phẩm cấp cao phục vụ nhu cầu thị trường. Trong hướng phát triển, sẽ có nhiều hơn các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao và có những đảm bảo về an toàn vệ sinh thực phẩm. Từ đó vấn đề xúc tiến thương mại cần được ngành nông nghiệp nghiên cứu kỹ để từ đó đưa ra những biện pháp thiết thực, hiệu quả trên cơ sở phải đảm bảo các sản phẩm có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh để đáp ứng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hỗ trợ đầu tư để phát triển công nghệ thiết bị. Điều quan trọng là tập trung khai thác thị trường nước ngoài, đặc biệt coi trọng thị trường tiêu dùng của Trung Quốc. Để làm được điều này cần có hướng tiếp cận giới thiệu nông sản, đẩy mạnh thông tin và quy hoạch một cách khoa học các mặt hàng nông sản.
Trọng Khang