Lịch sử cách mạng Việt Nam là lịch sử của những bước ngoặt lớn, nơi Đảng phải đưa ra các quyết sách có tính chất quyết định vận mệnh dân tộc. Ở mỗi thời điểm ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn đóng vai trò nền tảng lý luận, “kim chỉ nam” cho hành động, giúp Đảng nhận diện đúng thời cơ - thách thức, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết và đưa ra những quyết sách sáng suốt. Việc phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh trước những bước ngoặt không chỉ nhằm hiểu rõ giá trị lịch sử, mà quan trọng hơn là làm rõ ý nghĩa định hướng cho kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự kết hợp sáng tạo giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với truyền thống yêu nước, nhân văn của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Tính khoa học, cách mạng và nhân văn thấm đượm trong tư tưởng của Người khiến hệ thống giá trị ấy không chỉ mang tính lý luận, mà còn mang đậm thực tiễn, được kiểm nghiệm qua suốt tiến trình đấu tranh giải phóng và xây dựng đất nước.
Từ mở đường, giành nước, giữ nước đến đổi mới
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, mỗi bước ngoặt lịch sử đều gắn liền với sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh. Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tiếp tục truyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp theo ý thức hệ phong kiến, tư sản của Nhân dân ta diễn ra rất sôi nổi và liên tục, nhưng tất cả đều không thành công. Sự thất bại đó do nguyên nhân các giai cấp lãnh đạo đã lạc hậu, non yếu; không nhận thức đúng yêu cầu khách quan của lịch sử gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; không tập hợp và tổ chức được đông đảo các giai tầng yêu nước; những hạn chế trong phương pháp đấu tranh… Việt Nam lâm vào khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước, nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho các thế hệ yêu nước đương thời là cần phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.
Chính từ thực tiễn đó, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã bền bỉ tìm đường giải phóng dân tộc, tạo tiền đề cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản không chỉ là bước ngoặt lý luận, mà còn là sự định đoạt vận mệnh dân tộc trong thời điểm lịch sử đầy thử thách, bởi nó khẳng định mục tiêu chiến lược “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, một tư tưởng xuyên suốt, đặt nền tảng cho Cương lĩnh đầu tiên của Đảng và mở ra thời kỳ mới, thời kỳ nhân dân Việt Nam đi theo con đường giải phóng dân tộc đúng quy luật của thời đại. Tư tưởng ấy nhấn mạnh rằng, độc lập dân tộc phải song hành với xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, và chính tư duy chiến lược này tạo tiền đề tư tưởng cho mọi bước đi về sau của dân tộc ta.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tiếp tục cho thấy giá trị, sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh cục diện thế giới và trong nước thay đổi nhanh chóng sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngươi trực tiếp chỉ đạo đánh giá tình hình, nhận định đúng mâu thuẫn chủ yếu, dự báo diễn biến tình thế và kêu gọi toàn dân chớp lấy thời cơ “ngàn năm có một” để giành chính quyền. Chính tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, tư duy xây dựng lực lượng chính trị rộng rãi và khả năng kết hợp mềm dẻo sức mạnh dân tộc với trào lưu tiến bộ quốc tế đã tạo nền tảng để Đảng ta đưa ra quyết định Tổng khởi nghĩa đúng thời điểm. Chỉ trong nửa tháng, chính quyền về tay nhân dân, chứng minh sức mạnh của tư duy “quyết đoán dựa trên phân tích khoa học”, đồng thời khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh, khi được vận dụng đúng đắn, có thể tạo ra những bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneve đã được ký kết, đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra một tư tưởng chiến lược đặc sắc: Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ, hai nhiệm vụ thống nhất trong mục tiêu chung giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là cách tiếp cận sáng tạo, xuất phát từ yêu cầu lịch sử và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Miền Bắc trở thành hậu phương lớn, tập trung xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong khi miền Nam là tiền tuyến, giữ vai trò quyết định trong sự nghiệp thống nhất. Người chỉ rõ cần kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, vận dụng linh hoạt sức mạnh dân tộc và sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Những chỉ dẫn đó tạo nền tảng cho đường lối chiến tranh nhân dân, dẫn đến quyết tâm chiến lược “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, mở đường cho Đại thắng mùa Xuân 1975, bước ngoặt kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Từ năm 1986, Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng cho bước ngoặt chuyển đổi mô hình phát triển. Khi đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, việc đổi mới tư duy trở thành yêu cầu tất yếu. Nhiều nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng sáng tạo vào công cuộc đổi mới của đất nước, như: tôn trọng quy luật khách quan, chống chủ quan duy ý chí; coi phát triển kinh tế là nền tảng của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế nhiều thành phần, khơi dậy mọi nguồn lực; xóa bỏ cơ chế bao cấp lạc hậu, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ; giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế. Đó chính là nền tảng lý luận để Đảng ta xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một lựa chọn mang tính đột phá, giúp Việt Nam thoát khỏi trì trệ và bước vào thời kỳ phát triển mới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của kinh tế số, kinh tế tri thức, chuyển đổi xanh và cạnh tranh toàn cầu, đất nước ta đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh một trong những quan điểm chỉ đạo “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”; đồng thời, xác định mục tiêu phát triển “thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Trong bối cảnh ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là giá trị lịch sử, mà là năng lượng tinh thần, trí tuệ định hướng cho đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh xác lập nền tảng về bản lĩnh chính trị, độc lập, tự chủ, tự cường. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cuộc cạnh tranh không chỉ dừng ở kinh tế hay công nghệ, mà còn là cạnh tranh về mô hình phát triển, chuẩn mực xã hội và sức mạnh văn hóa. Nhiều nước bất ổn, thậm chí đi chệch hướng khi chạy theo xu hướng nhất thời, sao chép mô hình bên ngoài mà không dựa trên điều kiện và lợi ích dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, độc lập dân tộc không chỉ là độc lập về lãnh thổ, mà còn là độc lập trong đường lối, tư duy và cách thức phát triển. Đó chính là “kim chỉ nam” giúp Đảng ta kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, tiếp thu tinh hoa nhân loại mà vẫn giữ vững bản sắc và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh giải phóng và khơi mở sức mạnh nội sinh - nhân tố quyết định thắng lợi trong thời đại kinh tế số, kinh tế tri thức. Trong kỷ nguyên công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tài nguyên quý nhất chính là trí tuệ con người. Tư tưởng “lấy dân làm gốc”, tư tưởng “trọng dân”, “trọng dụng hiền tài” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành nguyên lý xuyên suốt, phù hợp với yêu cầu phát triển ở trình độ mới.
Ngày nay, muốn tạo đột phá, Việt Nam phải dựa vào đổi mới sáng tạo, vào chất lượng nguồn nhân lực, vào khát vọng vươn lên của toàn dân tộc. Xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, bồi dưỡng nhân tài, thu hút chuyên giao, nâng cao chất lượng giáo dục - tất cả đều là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu, khơi dậy sức dân để làm nên sức mạnh quốc gia”. Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng xác định 3 đột phá chiến lược, trong đó nhấn mạnh “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”.
Thứ ba, giữ gốc văn hóa, xây nền phát triển. Biện chứng trong tư duy Hồ Chí Minh là sự gắn bó không tách rời giữa kinh tế và văn hóa, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Tư tưởng về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiện trong văn kiện Đại hội XI của Đảng, đó chính là tư tưởng “phát triển kinh tế hài hoà với xây dựng văn hóa”. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số hiện nay, tư tưởng ấy nhắc nhở chúng ta rằng tăng trưởng kinh tế phải đi cùng tiến bộ xã hội, bảo đảm phẩm giá con người và bền vững văn hóa.
Đây chính là nền tảng để đất nước xây dựng mô hình phát triển không sao chép ngoại lai mà dựa trên sức mạnh nội sinh, tạo bản sắc phát triển Việt Nam: Hiện đại nhưng nhân văn, hội nhập nhưng giữ bản sắc. Nhờ đó, quá trình công nghiệp hóa và kinh tế số không làm rạn nứt đạo đức, không gây đổ vỡ xã hội, không đánh mất gốc văn hóa dân tộc. Trong kỷ nguyên mới, tư tưởng Hồ Chí Minh vì thế vẫn là “giá trị soi đường” giúp Việt Nam phát triển nhanh nhưng bền vững, phồn vinh mà không đánh đổi, vững chắc trên con đường xây dựng đất nước hưng thịnh và hạnh phúc.
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh tạo nền tảng đạo đức, văn hóa chính trị giúp bảo vệ công cuộc đổi mới khỏi nguy cơ suy thoái. Đổi mới, phát triển không chỉ là thay đổi mô hình kinh tế; đó còn là quá trình xây dựng một nền quản trị liêm chính, hiện đại, minh bạch, củng cố niềm tin của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân; người cán bộ, đảng viên phải “vừa hồng, vừa chuyên”; Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh thì mới đủ sức lãnh đạo đất nước.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, bài học trên càng có giá trị thời sự. Nếu thiếu liêm chính và minh bạch, bất kỳ quốc gia nào cũng có thể rơi vào trì trệ và khủng hoảng, dù kinh tế có phát triển đến đâu. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và văn hóa chính trị chính là “lá chắn” bảo vệ quá trình đổi mới, đồng thời tạo niềm tin và đồng thuận xã hội.
Từ những giá trị trên, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nguồn lực tinh thần, trí tuệ định hình khát vọng phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Không chỉ giải đáp những vấn đề của thế kỷ XX về độc lập, xây dựng nhà nước và huy động sức dân, tư tưởng ấy còn mở ra lời giải cho các câu hỏi hiện đại: phát triển nhanh nhưng bền vững; hội nhập mà vẫn giữ bản sắc; thịnh vượng mà không để xã hội phân hóa; tiến bộ khoa học - công nghệ đi đôi với văn hóa và đạo đức.
Tư tưởng Hồ Chí Minh không nằm trong quá khứ, mà đang hiện diện trong mọi chính sách đổi mới, trong ý chí vươn lên của thế hệ trẻ và trong mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn phát triển đến năm 2045.