Chúng tôi đến thăm Thành cổ Quảng Trị vào một chiều mưa bụi giăng giăng. Có lẽ đúng khi ai đó đã nói rằng, đến Quảng Trị mà chưa viếng thăm Thành cổ thì coi như chưa đến Quảng Trị. Trong khói hương trầm, đâu đó loa từ một nhà bên đường vọng đến tiếng hát da diết của ca sĩ Nhã Phương bài Cỏ non Thành cổ: “Cho tôi hôm nay vào thành cổ/ Thắp một nén nhang viếng người nằm dưới cỏ/ Cỏ xanh non tơ, cỏ xanh non tơ/ Xin chớ vô tình với người hy sinh trên mảnh đất quê mình...”.
81 NGÀY ĐÊM RỰC LỬA
Thành cổ Quảng Trị nằm ở trung tâm thị xã Quảng Trị, chỉ cách quốc lộ 1A 2km về phía bắc, cách sông Thạch Hãn huyền thoại và linh thiêng 500m về phía đông. Theo các tư liệu lịch sử, để trấn giữ phía bắc kinh đô Huế, năm 1802, vua Gia Long đã cho đắp thành Quảng Trị tại phường Tiền Kiên (thuộc huyện Triệu Giang - Triệu Phong ngày nay), đến năm 1809 thì dời dinh lỵ về xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng, nay là thị xã Quảng Trị. Nguyên gốc thành đắp bằng đất hình vuông, đến năm 1837 mới xây bằng gạch. Thành có kiến trúc kiểu vô-băng (thành quân sự) với 4 góc nhô hẳn ra ngoài, dùng làm pháo đài canh giữ. Thành có chu vi 2.080m, tường cao 4,29m, chân tường dày 12,75m. Thành có các cửa tiền, hậu, tả, hữu xây hình vòm cuốn, trên có vọng lâu. Bên ngoài thành là hào bao quanh, sâu 3,4m, rộng 34,85m. Trong thành có các công trình kiến trúc như: Hành cung, cột cờ, dinh tuần vũ, dinh án sát, dinh lãnh binh, ty phiên, ty niết, kho thóc, nhà lính...
Tôi tự nhủ, Thành cổ Quảng Trị hẳn cũng sẽ bình thường như bao toà thành cổ khác ở Việt Nam (như thành cổ Quảng Yên ở Quảng Ninh được xây cùng thời, còn đến ngày nay chẳng hạn) nếu nó không trở thành chiến trường ác liệt trong 81 ngày đêm của “mùa hè đỏ lửa” năm 1972.
Theo các tư liệu lịch sử tại Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị, ngày 30-3-1972, hai Sư đoàn 304 và 308 của ta với sự hỗ trợ của các trung đoàn xe tăng và pháo binh đã vượt qua khu phi quân sự tại giới tuyến 17 chia cắt 2 miền. Đồng thời từ phía tây, Sư đoàn 324B với xe tăng hỗ trợ theo đường 9 từ Lào vượt qua Khe Sanh tiến vào thung lũng sông Thạch Hãn. Quân ta tiến đánh vào các vị trí phòng thủ làm tan rã lực lượng địch. Ngày 28-4, ta chiếm được Đông Hà. Ngày 2-5, thị xã Quảng Trị được giải phóng. Để mất Quảng Trị, Mỹ - Ngụy đã điên cuồng mở cuộc phản kích tái chiếm Quảng Trị. Trong đó mục tiêu số 1 là phải chiếm được Thành cổ Quảng Trị. Thị xã Quảng Trị trong 81 ngày đêm (từ 28-6 đến 16-9-1972) được ví như một túi bom. Trung bình mỗi ngày địch huy động 150-170 lần chiếc máy bay phản lực, 70-90 lần chiếc B52 để ném bom huỷ diệt thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Với diện tích chưa đầy 3 cây số vuông, trong 81 ngày đêm thị xã và Thành cổ Quảng Trị phải gánh chịu 328.000 tấn bom đạn - tương đương 7 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Nhật Bản. Dù trên mình mang đầy thương tích nhưng các anh vẫn chiến đấu ngoan cường, người này ngã xuống, người khác lại đến thay. Báo Quân đội nhân dân ra ngày 9-8-1972 viết “Mỗi mét vuông đất mà các chiến sĩ ta giành được ở Thành cổ Quảng Trị thực sự là một mét vuông máu”.
LÁ THƯ KỲ LẠ
Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm kể từ “mùa hè đỏ lửa” khốc liệt năm 1972 ấy. Thị xã Quảng Trị đã được xây dựng lại từ đổ nát của chiến tranh. Thành cổ Quảng Trị đã được tu sửa, được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt và trở thành điểm viếng thăm của hàng triệu lượt du khách trong nước và quốc tế. Vết tích thành cổ thời Nguyễn giờ chỉ còn sót một đoạn tường gạch phủ dấu thời gian phía bên tay phải cổng chính Thành cổ. Trong khuôn viên Thành cổ được trồng nhiều cây xanh, trên các thảm cỏ trưng bày nhiều tượng đài ca ngợi sự hy sinh oanh liệt của bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống ở Thành cổ. Trên những tảng đá được mài, khắc những câu thơ mà tôi chắc ai đọc cũng rưng rưng: “Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi/ Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ/ Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió/ Ru mãi bài ca Bất tử đến vô cùng” của cựu chiến binh Thành cổ Phạm Đình Lân, hay “Hễ có Việt Nam có Cổ Thành/ Kết vòng hoa lửa nối Khe Sanh/ Huân chương khó đủ từng viên gạch/ Tấc đất từng giây mỗi lá cành” (Trần Bạch Đằng)...
Thu Nguyệt - hướng dẫn viên của đoàn cho biết, đến bây giờ người ta vẫn không thể thống kê được có bao nhiêu liệt sĩ, người dân Quảng Trị đã ngã xuống ở Thành cổ trong cuộc chiến 81 ngày đêm khốc liệt, đẫm máu năm 1972 ấy, chỉ biết rằng con số ấy là hàng ngàn, rằng mỗi tấc đất Thành cổ đều thấm máu các liệt sĩ. Một điều chắc chắn nữa là tất cả họ đều ngã xuống khi tuổi đời chỉ trên dưới 20.
Trung tâm của Thành cổ Quảng Trị là Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ được xây dựng mô phỏng là ngôi mộ tập thể. Công trình được thiết kế theo quan niệm triết lý âm dương mang ý nghĩa sâu sắc là để siêu thoát cho linh hồn các liệt sĩ. Dưới chân nấm mồ được đắp theo hình bát giác, bốn lối bậc cấp đi lên tượng trưng cho tứ tượng, tầng dâng hương là tầng lưỡng nghi. Trên tầng lưỡng nghi gồm hai nửa âm và dương, tượng trưng giữa trời và đất, giữa ngày và đêm, giữa người sống và người chết. Ngay nửa phần âm là một cây hương cao 8,1m được ví như “Đèn thiên mệnh” để chuyển tải linh hồn các liệt sĩ về cõi vĩnh hằng. Giữa “Đèn thiên mệnh” có hình tượng “bát cơm quả trứng” theo quan niệm, phong tục của người Á Đông.
Một điều đáng chú ý là con số 81 ngày đêm được thể hiện ở nhiều chi tiết của Đài tưởng niệm như có tổng cộng 81 bậc đi lên Đài, cây hương cao 8,1m, xung quanh tầng lưỡng nghi có 81 bức phù điêu là 81 tờ lịch ghi từng ngày một của cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, theo chiều ngược kim đồng hồ, bắt đầu là ngày 28-6, cuối cùng là ngày 16-9-1972.
Bên trong lòng Đài tưởng niệm rỗng, có hai trục đường giao nhau thành dấu cộng. Theo chị Thu Nguyệt, về mặt tâm linh thì đây là nơi hội tụ linh hồn của các chiến sĩ tứ phương về nấm mồ chung này. Ở chính giữa dấu cộng là nơi bày hành trang người lính giản dị, gồm: 1 chiếc mũ tai bèo, 1 đôi dép cao su, 1 bi đông nước, 1 khẩu súng AK và 1 ba lô. Chị Thu Nguyệt cũng cho biết, do hàng ngàn chiến sĩ ta cho đến hôm nay vẫn còn nằm dưới mảnh đất này, máu xương của các anh đã thấm vào từng ngọn cỏ, thớ đất Thành cổ, vì thế mà các công trình dưới thời nhà Nguyễn của Thành cổ đã không được phục dựng lại nữa.
Một công trình nổi bật khác tại Thành cổ Quảng Trị đó là Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị, nằm ở bên phải, không xa Đài tưởng niệm. Những hình ảnh, hiện vật trưng bày tại Bảo tàng không nhiều nhưng đủ để khách viếng thăm hình dung được sự khốc liệt của cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị của những người lính tuổi 20. Nổi bật giữa gian trưng bày là bức ảnh đen trắng chụp Thành cổ trong 81 ngày đêm tan hoang bởi đạn bom. Trước bức ảnh là mô hình ngọn lửa bất tử cháy mãi như lòng quả cảm của những người lính.
Tuy nhiên, hiện vật nổi tiếng nhất trong bảo tàng phải kể đến là 2 bức thư: Một là của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh và một của liệt sĩ Lê Binh Chủng. Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, quê ở xã Lê Lợi, huyện Kiến Xương (Thái Bình). Bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh viết ngày 11-9-1972, trước khi anh hy sinh 3 tháng 20 ngày như một lời trăng trối gửi về gia đình và người vợ mới cưới, trong đó anh đã dự cảm chính xác ngày mình hy sinh, nơi chôn cất và hướng dẫn tỉ mỉ người vợ đi tìm mộ mình ra sao sau ngày đất nước thống nhất. Năm 2002, theo hướng dẫn của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, bà Đặng Thị Xơ, vợ liệt sĩ Huỳnh đã đi tìm và đã thấy hài cốt của chồng theo đúng những gì anh miêu tả trong thư. Theo chị Thu Nguyệt, 15 năm qua, hàng triệu lượt người hành hương về Thành cổ đã khóc trước lá thư thiêng của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh.
Bức thư thứ hai là của liệt sĩ Trung uý Lê Binh Chủng, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 3, Tỉnh đội Quảng Trị). Trung uý Lê Binh Chủng quê ở xã Quỳnh Mỹ, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). Tiểu đoàn 3, mật danh Tam Đảo của liệt sĩ Chủng ngày ấy nổi tiếng với lời thề quyết tử thiêng liêng của cán bộ, chiến sĩ đơn vị: “K3 Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn”. Trong dịp hành quân vào Nam chiến đấu, dừng lại ở tỉnh Quảng Bình, anh Chủng đã gặp và yêu mến cô nữ dân quân Phạm Thị Biển Khơi. Sau đó, anh hành quân vào Thành cổ Quảng Trị chiến đấu và hy sinh trong cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ nhưng được cho là mất tích. Năm 2002, trong khi thi công phục chế Thành cổ, đội xây dựng đã tìm thấy 1 căn hầm bê tông, trong hầm có 5 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 1 bộ hài cốt có xắc - cốt quàng trên người, bên trong còn nguyên 2 bức thư của chị Phạm Thị Biển Khơi gửi chồng. Cả hai bức thư đều chan chứa yêu thương tình yêu của người vợ quê nhà gửi chồng ngoài mặt trận và niềm tin vào ngày đất nước thống nhất. Từ bức thư, không chỉ tìm thấy hài cốt liệt sĩ Lê Binh Chủng mà qua đó, người ta mới phát hiện ra câu chuyện tình yêu đẹp, mới công nhận con liệt sĩ cho con trai anh. Bà Phạm Thị Biển Khơi đã hiến tặng bức thư và các kỷ vật của chồng cho Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị để các thế hệ trẻ biết được về cuộc chiến ác liệt, đẫm máu tại Thành cổ, biết thêm về sự hy sinh của thế hệ cha ông.
Tạm biệt Thành cổ Quảng Trị, có lẽ chưa hết xúc động nên cả đoàn ai cũng lặng lẽ, trầm tư. Tôi ngước nhìn lên tháp chuông ở phía tây Thành cổ. Tháp chuông mờ ảo trong ánh chiều chạng vạng và mưa bụi. Thu Nguyệt bảo trên đó có quả chuông đồng nặng 9 tấn. Chuông chỉ được đánh vào các ngày lễ, ngày rằm để vọng tưởng linh hồn các liệt sĩ.
Trần Minh