Năm 2010, UBND huyện Hải Hà đã bố trí kinh phí trên 980 triệu đồng để thực hiện dự án “Xây dựng và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Hải Hà” cho sản phẩm chè” của huyện. Thực hiện dự án này, huyện Hải Hà đã và đang tích cực triển khai nhiều giải pháp để có thể hoàn thành đúng tiến độ đề ra vào tháng 6-2013. Trước mắt, huyện đang tập trung cho việc quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu.
Được coi là “vựa chè” của Quảng Ninh, cây chè ở Hải Hà từ lâu đã gắn bó mật thiết với con người và mảnh đất này. Không chỉ chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài tỉnh, sản phẩm chè Hải Hà còn được xuất khẩu sang nhiều nước lân cận. Mấy năm trở lại đây, diện tích chè có xu hướng tăng nhanh, từ 549,118ha, trước năm 2004 đã tăng lên 982,349ha, năm 2011. Sở dĩ, việc trồng chè đã trở nên phổ biến hơn, bởi đối với nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp trên địa bàn, chè đem lại lợi nhuận không nhỏ, góp phần ổn định kinh tế. Anh Đặng Tuấn Hiệp, Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hải Hà cho biết: “Cùng với việc đặt tên cho thương hiệu, phân tích thành phần hoá học của chè, xây dựng lô gô, mẫu mã, bao bì... thì việc đẩy mạnh quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu đóng vai trò quan trọng trong việc rút ngắn thời gian xây dựng và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Hải Hà” cho sản phẩm chè của huyện. Hiện diện tích chè ở huyện đã từng bước đảm bảo ổn định. Để tiếp tục lộ trình quy hoạch vùng nguyên liệu, chúng tôi đang tích cực chuyển đổi cơ cấu giống, tạo “dây chuyền” gắn kết giữa sản xuất - chế biến - tiêu thụ”.
Thời gian qua, có nhiều giống chè được trồng tại huyện Hải Hà như chè Trung du, LDP1, LDP2, Phúc Vân Tiên, PT95, chè Keo Am Tích... Trong đó giống chè Trung du chiếm diện tích lớn nhất (454,118 ha). Sự đa dạng về giống chè đã tạo nên các sản phẩm chè với chất lượng và giá bán khác nhau. Tuy nhiên, điều này vô hình chung đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu “Hải Hà” cho sản phẩm chè của huyện. Bởi khi xác lập quyền sở hữu trí tuệ, sản phẩm chè phải đảm bảo đồng bộ về chất lượng, tiêu chuẩn chung để có thể đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường chè trong và ngoài nước đang ngày một “khó tính”. Được biết, để chuyển đổi cơ cấu giống chè, trong năm 2012, tại các xã Quảng Long, Quảng Thịnh, huyện đã vận động nhiều hộ trồng chè tích cực chuyển đổi cơ cấu giống chè, trồng thay thế giống cũ bằng các giống chè mới có chất lượng như: PH8, PH10, Kim Tuyên, Ngọc Thuý với quy mô 30 ha. Bên cạnh đó, cũng tại 2 xã này, huyện xây dựng mô hình thâm canh 30 ha cho những nơi có giống chè LDP1, LDP2 được trồng từ năm 2004- 2009. Ông Nguyễn Duy Thuấn, Giám đốc Công ty TNHH Chè Thuấn Quỳnh cho biết: “Thời gian đầu, công ty chúng tôi có dùng giống chè LDP1, song được huyện tư vấn giống chè Ngọc Thuý, Kim Tuyên có giá trị kinh tế cao hơn, chúng tôi đã chuyển sang trồng hai giống này. Qua thử nghiệm, hiệu quả trông thấy, giá trị kinh tế cao hơn 3-4.000/cân búp tươi so với giống cũ...”.
Được biết, trên cơ sở ổn định diện tích chè đang có, thời gian tới, huyện tiếp tục quy hoạch vùng sản xuất tập trung tại các xã Quảng Long, Quảng Sơn, Quảng Thịnh để thay thế giống cũ với diện tích trên 400ha, giảm diện tích chè giống Trung du lá nhỏ xuống chỉ còn từ 15-20% tổng diện tích chè toàn huyện. Anh Đặng Tuấn Hiệp cho biết thêm: “Để giúp các hộ gia đình, doanh nghiệp trồng chè trên địa bàn có điều kiện chuyển đổi cơ cấu giống chè, chúng tôi đã tham mưu cho lãnh đạo huyện có nhiều biện pháp hỗ trợ 100% giống, 50% phân bón đối với những xã thử nghiệm trồng các giống chè mới trên”.
Có thể thấy, việc quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu là rất cần thiết, đây được coi là bước đi đảm bảo cho sự phát triển lâu bền đối với chè Hải Hải Hà. Diện tích chè đang được chuyển đổi cơ cấu giống hiện vẫn còn hạn chế (gần 500ha trong tổng số 982ha). Hy vọng, trong thời gian tới, huyện sẽ tích cực chuyển đổi giống trên diện tích rộng hơn nữa để việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Hải Hà” cho sản phẩm chè” của huyện sẽ được hoàn thành đúng tiến độ đề ra.
Lan Anh