Xoá mù chữ và chống tái mù chữ: Bài 2: Lớp học trong đêm ở Yên Than

Tối một ngày giữa tháng 9, những cơn gió thu se lạnh nơi vùng cao đã khiến chúng tôi không khỏi rùng mình trên đường đến với điểm trường Khe Muối (xã Yên Than, huyện Tiên Yên). Tại đây, một lớp học hết sức đặc biệt đang diễn ra, với học sinh là các anh, chị, các mẹ - những người vốn đã quá tuổi đến trường và quanh năm chỉ biết đi rẫy, làm nương. Cuộc sống của họ còn bộn bề những khó khăn, nhưng hàng đêm họ vẫn lọ mọ soi đèn vượt sông, vượt suối đến lớp xoá mù, với khao khát biết đọc, biết viết…

Lớp học xoá mù chữ tại điểm trường Khe Muối, xã Yên Than (Tiên Yên).
Lớp học xoá mù chữ tại điểm trường Khe Muối, xã Yên Than (Tiên Yên).

Điểm trường Khe Muối nằm trên quốc lộ 4B, tuy là quốc lộ nhưng tuyến đường nối huyện Đình Lập (Lạng Sơn) với huyện Tiên Yên (Quảng Ninh) lại khá vắng vẻ. Đi từ trung tâm xã Yên Than, phải khá lâu chúng tôi mới thấy một ánh đèn lập loè của chiếc xe máy đi ngược chiều. Văng vẳng bên tai là những tiếng kêu của ếch, của dế bên bờ sông Phố Cũ chảy dọc theo quốc lộ, còn lại là một màn đêm phủ kín. Đi cùng với tôi là “thổ công” Xuân Thao, phóng viên Đài Tiên Yên. Anh bảo: “Ven đường là các xã vùng cao của huyện, cư dân sống khá thưa thớt nên buổi tối thường vắng vẻ như vậy. Bà con ở đây chủ yếu là người dân tộc Tày, dân tộc Dao, để đến được điểm trường, họ phải qua nhiều sông, suối, mùa mưa lũ các bản hay bị chia cắt. Vì thế, việc học chữ khá gian nan…”.

Chúng tôi đến điểm trường khi kim đồng hồ chỉ 8 giờ tối. Phá tan sự tĩnh lặng của đêm là tiếng đánh vần ngọng nghịu của học sinh trong lớp xoá mù chữ. Để không làm ảnh hưởng tới lớp, tôi chọn chiếc bàn cuối có một chị trung niên đang chăm chú nghe giảng. Tiếng thầy nhỏ nhẹ, trìu mến, bên dưới là những trang vở với nét chữ nguệch ngoạc của học sinh, những gương mặt giãn ra mãn nguyện. Trong số những người ngồi đây, có người chưa từng đến lớp, có người đã đi học rồi nhưng lại quên hết chữ, bây giờ được học lại. Mỗi người một tâm trạng, một cảm xúc nhưng dường như ai cũng háo hức.

Tranh thủ khi giải lao, tôi quay sang trò chuyện với chị ngồi bên. Chị cho biết tên là Trịnh Thị Mai, 46 tuổi, người dân tộc Dao, đang sống tại thôn Khe Muối, xã Yên Than. Chị bảo: Đi học vui lắm, ngày trước bà con ở đây rất ít người biết đọc, biết viết, ra đường muốn đón xe đi đâu cũng phải nhờ người trong bản đón hộ vì không đọc được biển (biển chỉ dẫn tuyến); nhận tiền hỗ trợ của nhà nước cũng chỉ biết điểm chỉ… Còn nhớ, có lần đưa con đến bệnh viện, bác sĩ bảo viết tên con vào tờ khai, tôi luống cuống quá vì không biết làm cách nào, phải đợi người nhà đến để viết hộ, xấu hổ lắm. Đến nay, nhờ sự quan tâm của chính quyền, tôi đã biết đọc chữ, có thể viết được tên mình lên bảng mà còn viết đẹp nữa. Thầy giáo nhiệt tình, chữ nào bà con chưa hiểu, chưa đọc được là thầy chỉ bảo ngay. Thầy tập cho bà con viết từng chữ, cách đánh vần, học làm toán. Do vậy, tôi rất thích học và đi học đầy đủ, mặc dù nhà có hơi xa, phải qua sông, đi lại vất vả.

Gian nan với con chữ

Phụ trách lớp học này là thầy giáo  Đặng Văn Sinh, giáo viên Trường PTCS Yên Than (xã Yên Than). Mái tóc thầy đã điểm bạc, song những trăn trở vẫn còn hằn in trong đôi mắt. Với thầy, được dạy chữ cho học sinh là một niềm vui. Thầy vui khi thấy học trò của mình biết đọc, biết viết, nhưng không khỏi khắc khoải khi thấy có hôm lớp học chỉ lèo tèo vài ba người. Đã từng tham gia nhiều lớp xoá mù chữ như vậy, hơn ai hết, thầy hiểu cái nghèo đeo bám nơi vùng quê là do thiếu tri thức. Vì thế, nhiều trường hợp học sinh đi học, nhưng sau đó lại bỏ lớp, thầy đã lặn lội đến gõ cửa từng nhà, động viên từng người đi học trở lại.

Thầy Sinh chia sẻ: Dạy chữ cho người lớn rất khó, nhiều người vẫn còn cầm bút bằng 4 ngón tay, cầm quá cao hoặc quá thấp, tiếp thu chậm, dạy trước quên sau. Điều đó không có gì ngạc nhiên bởi đa số bà con còn phải bận rộn với trăm bề công việc, vừa làm mẹ, làm vợ, làm con, không thể chuyên tâm như các em học sinh. Chính vì thế, để bà con hiểu được những gì cần truyền đạt thì cách dạy phải phù hợp với trình độ, phong tục, tâm lý của họ…

Đang dở câu chuyện với chúng tôi, trong lớp chợt có tiếng gọi với ra: “Khó quá thầy ơi! Cái tay cầm rựa (một loại dao) quen rồi, sao cái tên của mình viết mãi không được?” Thầy Sinh quay ra cười, nói với chúng tôi: Đấy là chị Dếch người Dao, vốn không có tên trong danh sách ban đầu của lớp, nhưng thấy chị em trong thôn đi học, chị cũng xin đi, mới học được hơn một tuần nay, đang tập viết tên mình.

Thầy Sinh cho hay, trong cùng một lớp học có hơn 20 người, nhưng lại có nhiều đối tượng khác nhau, trẻ thì 18, già thì trên 50 tuổi, người chưa bao giờ biết đến mặt chữ, lại có người đã từng học qua nhưng tái mù. Vì vậy, người dạy phải linh hoạt chứ không có giáo án chung nào tất cả các đối tượng trong lớp xoá mù.

Quả vậy, cũng theo thầy Sinh thì bởi đối tượng khác nhau, chủ yếu là người dân tộc thiểu số, kết thúc lớp học họ bận rộn lo mưu sinh, vì vậy, việc dùng chữ của đồng bào còn hạn chế do thói quen sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong giao tiếp. Tôi chợt hiểu, đó cũng chính là lý do vì sao ngành Giáo dục và các địa phương đã nhiều năm nỗ lực, triển khai các lớp học xoá mù chữ mà tỷ lệ người dân tái mù vẫn còn cao. Trên những bản vùng cao kia vẫn còn những người phải điểm chỉ bằng tay vì không viết nổi tên mình và cả những em đã 15, 16 tuổi vẫn có tên trong danh sách người mù chữ…

Rời điểm trường Khe Muối, chúng tôi xuôi về thị trấn Tiên Yên, vẫn con đường quốc lộ vắng vẻ đó, song văng vẳng bên tai giờ lại là tiếng đánh vần, những khao khát giản dị như viết được tên mình, tên con, đọc được biển tuyến xe…

Đỗ Phương

Bài 3: Để xoá mù bền vững

[links()] Xoá chữ chống tái chữ: Thực trạng đáng báo động

Cùng chuyên mục