Đề án 196 ra đời là quyết tâm chính trị của Quảng Ninh trong giảm nghèo bền vững ở vùng “lõi nghèo” của tỉnh với 22 xã, 11 thôn đặc biệt khó khăn (ĐBKK). Đề án xóa nghèo đặc biệt này cũng đã thể hiện cách làm riêng có của Quảng Ninh từ cơ chế, cách làm với sự chỉ đạo quyết liệt, sự phân công trách nhiệm rõ việc, rõ tiến độ, rõ người làm…
Đề án xóa nghèo đặc biệt
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 (Chương trình 135), căn cứ vào thực tế địa phương, Quảng Ninh đã cụ thể hóa chỉ đạo thực hiện Chương trình 135 bằng việc phê duyệt và triển khai Đề án “Nhiệm vụ và giải pháp đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” (gọi tắt Đề án 196).
Đề án 196 chính là thể hiện sự quyết tâm và sáng tạo của Quảng Ninh trong thực hiện đưa các xã, thôn, bản ra khỏi diện ĐBKK vào năm 2020. Nét khác biệt trước hết phải nói đến nguồn vốn hỗ trợ cho các xã, thôn ĐBKK. Quảng Ninh tập trung mạnh nguồn lực và hỗ trợ vượt định mức của Trung ương. Theo đó, bình quân mỗi xã được hỗ trợ 10 tỷ đồng (Trung ương quy định 1,5 tỷ đồng/xã); tỉnh không bố trí bình quân đồng đều, mà dựa trên tình hình thực tế của từng địa phương để phê duyệt mức hỗ trợ cụ thể.
Quy trình thực hiện Đề án “hai lên, một xuống” cũng thể hiện nét khác biệt, có sự phân cấp rõ ràng, chặt chẽ. Tức là các xã, thôn bản khu vực III bàn bạc thống nhất các dự án trình lên huyện, cấp huyện xem xét trình lên tỉnh và cấp tỉnh xem xét quyết định, phê duyệt cơ chế hỗ trợ trực tiếp, đưa xuống cho xã, thôn ĐBKK thực hiện. Đồng chí Mai Vũ Tuấn, Bí thư Huyện ủy Bình Liêu, khẳng định: Bình Liêu là huyện miền núi, dân tộc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh. Triển khai Đề án 196, huyện xác định phải căn cứ vào nhu cầu của người dân và phù hợp với thực tế của địa phương. Huyện chỉ đạo các xã khảo sát, xác định rõ nhu cầu cần hỗ trợ của người dân, cái gì cần thiết và không cần thiết, từ đó tổng hợp, lập dự án cụ thể và hiệu quả nhất. Căn cứ đề nghị của các xã, huyện khảo sát và đưa ra định hướng đầu tư, trong đó tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nông thôn, ưu tiên thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo hướng sản xuất tập trung, hàng hóa, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp của địa phương, nâng cao thu nhập cho người dân, thực hiện giảm nghèo. Năm 2017, huyện đã hỗ trợ sản xuất 8,6 tỷ đồng từ nguồn vốn Chương trình 135, tập trung vào các mô hình chăn nuôi, trồng trọt thế mạnh, như trồng cây dong riềng, nuôi trâu, bò.
Có thể thấy, hiếm có một đề án nào được tỉnh đặc biệt quan tâm từ khâu lãnh đạo cho đến chỉ đạo triển khai và kiểm tra sát sao như Đề án 196. Tỉnh xác định và quán triệt thống nhất việc triển khai Đề án không phải trách nhiệm, nhiệm vụ của riêng một sở, ngành, địa phương nào, mà là sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Tỉnh ủy phân công các đồng chí Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh phân công các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh trực tiếp theo dõi, chỉ đạo thực hiện Đề án 196 và Chương trình 135 tại từng địa phương. Mỗi sở, ban, ngành được giao trách nhiệm theo dõi thực hiện Đề án tại từng huyện cụ thể. MTTQ và các tổ chức đoàn thể được phân công “vào cuộc” đến từng tổ, hội ở xã, thôn, bản… Đối với người dân, tỉnh xác định rõ đây là nhân tố chủ thể của Đề án 196. Do đó, quan điểm của tỉnh là Nhà nước chỉ giữ vai trò hỗ trợ, không làm thay, làm hộ. Bên cạnh đầu tư hạ tầng, Đề án tập trung nguồn lực lớn để hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng ĐBKK, tạo động lực để người dân tự vươn lên thoát nghèo.
Khi Đề án đi vào cuộc sống
Chỉ sau 1 năm triển khai, Đề án 196 đã tạo lực đẩy quan trọng để các xã, thôn ĐBKK của tỉnh bứt phá vươn lên. 164 công trình hạ tầng thiết yếu tại các xã ĐBKK được sửa chữa, xây dựng mới trong năm qua đã giúp các xã, thôn ĐBKK khoác lên một diện mạo hoàn toàn mới, phục vụ đắc lực cho đời sống và sản xuất của người dân. Gần 3.400 hộ nghèo trên địa bàn các xã, thôn ĐBKK đã được hỗ trợ vốn, giống, kỹ thuật để triển khai các mô hình phát triển sản xuất phù hợp, gắn với quy hoạch sản xuất và phát triển các thương hiệu của địa phương theo Chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh.
Huyện Tiên Yên đã tập trung triển khai dự án chăn nuôi gà Tiên Yên, nuôi bò, trồng dong riềng, trồng rừng gỗ lớn, trồng gừng... Huyện Bình Liêu chủ yếu hỗ trợ người dân triển khai mô hình trồng cây dong riềng, sở, chăn nuôi bò, dê. Huyện Hoành Bồ triển khai hỗ trợ mô hình nuôi trâu, trồng rừng, khoai sọ nương, trồng ổi, v.v. Đây hầu hết là những nông sản gắn với quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung các sản phẩm thuộc chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (chương trình OCOP) của các huyện. Qua đó nhằm đảm bảo đầu ra sản phẩm, cải thiện thu nhập cho người dân. Ông Trương Công Ngàn, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Tiên Yên, nhấn mạnh: Phát triển sản xuất gắn với chương trình OCOP cũng chính là một trong những giải pháp nhằm xóa nghèo bền vững, giúp cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhờ đó đến nay, hầu hết các xã, thôn ĐBKK có sự chuyển động tích cực về thực hiện các tiêu chí, điều kiện, chỉ tiêu phấn đấu đặt ra để hoàn thành Chương trình 135, ra khỏi diện ĐBKK. Một số địa phương đặt mục tiêu đưa một số xã, thôn thoát diện ĐBKK sớm hơn lộ trình. Đến hết năm 2017, trong số 22 xã, 11 thôn ĐBKK, đã có 6 xã gồm: Đồng Lâm, Đồng Sơn (huyện Hoành Bồ); Đại Dực, Đại Thành (huyện Tiên Yên); Quảng Lợi, Quảng An (huyện Đầm Hà) thoát khỏi diện ĐBKK. Các thôn: Ngàn Kheo (xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu); Khe Mạ (xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên) cũng ra khỏi diện ĐBKK. Gần 1.900 hộ nghèo ở 22 xã, 11 thôn ĐBKK thoát nghèo, vượt 61,8% kế hoạch.
Kết quả sau 1 năm không chỉ được thể hiện qua những con số thống kê đơn thuần, mà thành quả quan trọng nhất của Đề án là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp và sự hưởng ứng tích cực của người dân. Đặc biệt là sự thay đổi về nhận thức của người dân vùng ĐBKK về vai trò, trách nhiệm của mình trong triển khai Đề án. Theo thống kê của Ban Dân tộc tỉnh, tính đến nay, người dân tại các xã ĐBKK đã đăng ký hiến đất, đóng góp ngày công lao động đối với các công trình hạ tầng thuộc Đề án 196 với tổng trị giá tương ứng 7,71 tỷ đồng; đối ứng trị giá gần 16 tỷ đồng để thực hiện các dự án phát triển sản xuất.
Là người gắn bó và đặt nhiều tâm huyết với Đề án 196, ông Lãnh Thế Vinh, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh, cho rằng: Quảng Ninh đặt mục tiêu Đề án 196 là đến năm 2020 đưa 100% các xã, thôn ĐBKK ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành Chương trình 135. Tuy nhiên, đích đến cốt lõi của Đề án này chính là hướng tới giảm nghèo bền vững, tạo sức bật cho các xã, thôn vùng ĐBKK của tỉnh phát triển, rút ngắn khoảng cách vùng miền trong tỉnh và gắn nhiệm vụ hoàn thành Chương trình 135 với xây dựng nông thôn mới. Do đó, song song với đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu, năm 2018 Quảng Ninh tiếp tục triển khai hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện đời sống người dân vùng khó. Đặc biệt là đa dạng hình thức tuyên truyền để Đề án 196 thấm sâu tới từng cán bộ, người dân; huy động sự chung tay vào cuộc thực sự của cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để Đề án tiếp tục đi vào cuộc sống một cách hiệu quả nhất.
Trúc Linh - Phương Thúy