Xuống lò cùng thợ mỏ Mông Dương

Giữa bóng tối âm u, người thợ lò vẫn vô tư trò chuyện, cười nói mặc cho mồ hôi rơi ướt đầm áo thợ. Với người khác đó là công việc nặng nhọc, nguy nan nhưng với thợ lò đây là nhịp sống, nhịp sản xuất thường ngày của họ.

Hành trình vào sâu trong lòng đất

Chúng tôi có mặt tại khu nhà đèn của mỏ Mông Dương vào giờ giao ca. Những chiếc đèn pin được các chị sạc đầy điện từ ca trước. Những người thợ lò lần lượt nhận đèn, quét khuôn mặt vào bảng chấm công, nhận thiết bị, kiểm tra lại từng chi tiết nhỏ. Tất cả diễn ra nhanh gọn như một phản xạ đã được rèn luyện qua hàng nghìn ca sản xuất.

Thợ lò Mông Dương đi bộ đến khu vực sản xuất.
Thợ lò Mông Dương đi bộ đến khu vực sản xuất.

Tôi để ý những gương mặt quanh mình họ phần lớn là những thợ lò còn rất trẻ. Có người vừa ngoài hai mươi, có người đã dày dạn hơn với ánh mắt trầm tĩnh. Họ đến từ nhiều vùng miền khác nhau như các xã Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên miền Đông của Quảng Ninh, thậm chí từ tận Tây Bắc, Bắc Trung Bộ hay Tây Nguyên. Những cái họ lạ như Lỷ, Phùn, Sẻn, Sùng… treo trên bảng danh sách của Phân xưởng đào lò 5 khiến tôi nhận ra rằng, Mông Dương không chỉ là một mỏ than mà đó còn là nơi hội tụ của nhiều sắc màu văn hóa.

Anh Tằng A Tài, một thợ lò người Dao đến từ xã Bình Liêu chia sẻ với tôi rằng khi mới vào nghề anh cũng thấy vất vả lắm. Vậy nhưng càng làm càng quen lại càng thấy yêu nghề. Bảy năm gắn bó với lò chợ, giọng nói của anh bình thản như kể về một điều hiển nhiên.

Từ nhà đèn, chúng tôi di chuyển về phía giếng đứng, nơi có chiếc “thùng cũi” bằng thép giống như một chiếc thang máy đặc biệt. Khi thùng cũi bắt đầu chuyển động thì cảm giác đầu tiên của chúng tôi là ánh sáng mặt trời cứ mờ dần rồi tắt lịm. Chỉ vài chục giây, chúng tôi đã xuống đến mức -97,5m, độ sâu từng được người Pháp khai thác từ gần một thế kỷ trước.

Nhưng hành trình của chúng tôi chưa dừng lại ở đó. Từ nhà ga trung tâm, chúng tôi tiếp tục lên xe song loan chạy sâu vào trong lòng mỏ. Quãng đường hơn 4km trôi qua trong tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray. Hai bên là những đường lò tối hun hút, ánh đèn lò lập lòe như những đốm sao nhỏ.

Thợ lò Mông Dương vận hành máy khấu than trong lòng đất.
Thợ lò Mông Dương vận hành máy khấu than trong lòng đất.

Xuống xe, chúng tôi lại tiếp tục đi bộ. Những bậc thang ẩm ướt, những đoạn đường lò thấp phải cúi người, những giọt nước ngầm tí tách rơi… Tất cả khiến từng bước chân trở nên nặng nề hơn. Khi chạm tới mức -160m, tôi đã bắt đầu cảm nhận rõ sự mệt mỏi. Điểm dừng chân của chúng tôi là một lò chợ cơ giới hóa đồng bộ do Phân xưởng Khai thác 5 đang khai thác. Anh Nguyễn Đức Dũng, Phó Quản đốc Phân xưởng Khai thác 5, lần lượt giới thiệu từng vị trí, từng thiết bị máy móc đang vận hành trong lò chợ.

Đối diện với khó khăn

Trước mắt tôi là một không gian hoàn toàn khác những giàn chống thủy lực xếp thành hàng dài, máy móc vận hành nhịp nhàng, tiếng động cơ vang vọng trong lòng đất. “Ở đây có 96 giàn chống”, một cán bộ phân xưởng giới thiệu. Tôi chú ý đến ký hiệu “CGH VM” được sơn trên thiết bị. Hỏi ra mới biết là giàn chống cơ giới hoá, còn “VM” là viết tắt của “Vũ Môn”. Đó là một cái tên khiến tôi bất ngờ. Giữa lòng đất sâu hun hút, nơi tưởng chừng chỉ có máy móc và đá than, những người thợ lại đặt tên nơi làm việc của mình theo một truyền thuyết đẹp gợi nhớ tích truyện cá chép vượt Vũ Môn hóa rồng. Đó không chỉ là một cái tên, mà là một niềm tin rằng mọi khó khăn như bóng tối rồi cũng sẽ lùi xa, chỉ còn lại ánh sáng. Ánh sáng của đèn lò, ánh sáng trong mắt những người thợ mỏ những con người vẫn ngày ngày “vượt Vũ Môn” theo cách của riêng mình.

Và có lẽ chính điều đó làm nên sự khác biệt của người thợ mỏ Mông Dương. Người Mông Dương đã vượt qua nhiều khó khăn chồng chất mà người khác nơi khác tưởng chừng phải chùn bước. Ngược dòng lịch sử, Mông Dương từng là một vùng đất đầy gian khó. Từ những năm đầu thế kỷ XX, người Pháp đã xây dựng lò giếng đứng ở mức -97,5m vào những năm 1930 nhưng chiến tranh và nhiều biến động đã khiến mỏ nhiều lần bị gián đoạn. Hệ thống lò giếng và các đường lò từng bị ngập nước trong nhiều năm. Phải đến năm 1982, sau hơn hai thập kỷ nỗ lực khôi phục, tấn than đầu tiên từ lò giếng đứng mới chính thức được đưa lên mặt đất.

20 năm dài bằng cả cuộc kháng chiến chống Mỹ, người Mông Dương đã trường kỳ vật lộn với mưa nắng và cả bom đạn để khôi phục cho bằng được lò giếng đứng năm xưa. Đó không chỉ là một cột mốc sản xuất mà còn là biểu tượng của ý chí con người.

Củng cố lò trong một ca sản xuất.
Củng cố lò trong một ca sản xuất.

Trong thời bình, người Mông Dương còn phải đối diện với mưa bão với lũ bùn ngập mỏ. Ông Nguyễn Công Tuân, Phó Bí thư Đảng ủy Công ty, cho biết: Những người thợ trẻ đang tiếp nối truyền thống trong một điều kiện khác, với những công nghệ hiện đại hơn, nhưng vẫn giữ nguyên tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”.

Trở lại với hiện tại, khi Mông Dương khai thác ở mức sâu hơn -250m, những thách thức mới lại đặt ra. Điều kiện vi khí hậu khắc nghiệt hơn, cung độ vận tải dài hơn, địa chất phức tạp hơn. Mỏ Mông Dương thì đứt gãy chia cắt nhưng người Mông Dương thì luôn đoàn kết gắn bó.

Tôi cảm nhận được điều đó khi chứng kiến các anh làm việc. Tất cả đều nhịp nhàng và rất ăn khớp với nhau. Ở đây, “kỷ luật và đồng tâm” không phải là khẩu hiệu mà thể hiện trong hành động. Trong điều kiện địa chất phức tạp, nhiều đứt gãy, áp lực đất đá lớn, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể trả giá đắt. Vì vậy, mọi quy trình đều được tuân thủ nghiêm ngặt. Tôi đứng quan sát một tổ thợ mồ hôi thấm ướt lưng. Họ gần như không cần nói nhiều chỉ cần một ánh mắt, một cái gật đầu là đủ hiểu ý nhau.

ddđ
Xúc than vào máng cào.

Có lẽ ở nơi thiếu ánh sáng như thế này, niềm tin giữa con người với con người là thứ ánh sáng quan trọng nhất. Ở dưới lò thì ngày cũng như đêm. Bóng tối âm u bao phủ khắp lòng đất. Bởi vậy người ta mới nói thợ lò là “ăn cơm dương gian làm việc âm phủ”. Chỉ khi theo chân những người thợ mỏ xuống lò, tôi mới hiểu thế nào là đi giữa đêm đen khi trên mặt đất đang ban ngày. Đó là đêm đen của lòng đất, của bóng tối đặc quánh. Nhưng bằng nghị lực và ý chí, con người đã luôn tìm ra ánh sáng cho mình.

Anh Nguyễn Văn Thơi, tổ trưởng sản xuất của Phân xưởng khai thác 5 là người đã có 9 năm gắn bó với mỏ Mông Dương đang hăng say làm việc. Mỗi tháng anh Thơi đều đạt đến 24 công với mức thu nhập trên 23 triệu đồng. Nhiều năm liền anh Thơi đạt danh hiệu Lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua cơ sở và là “Người thợ mỏ - người chiến sĩ” tiêu biểu của mỏ Mông Dương. Ở Mông Dương ngày càng xuất hiện nhiều người đạt danh hiệu “Người thợ mỏ - người chiến sĩ” như anh Thơi. Có thể kể ra một vài gương điển hình như: Anh Phạm Bá Cường ở Phân xưởng đào lò số 4, anh Bùi Văn Bạo ở Phân xưởng khai thác 2, anh Nguyễn Văn Thỏa ở Phân xưởng đào lò 3, anh Phạm Nam Phong ở Phân xưởng khai thác 6.

Theo anh Phạm Văn Công, Phó Quản đốc Phân xưởng khai thác 8, anh em thợ đã đi sâu qua mức -140m bằng hệ thống lò chống giữ giá thủy lực. Khó khăn thì nhiều, nhưng anh em đều làm chủ được công việc. Người đi trước kèm người đi sau. Thợ già kèm cặp thợ trẻ, truyền lại kinh nghiệm cho người trẻ. Ở đây, anh em như một gia đình. Nhờ đó mà ngày công tăng, thu nhập cũng tăng.

Tại Mông Dương, những người lao động được hết mình cống hiến và họ cũng được nhận về những thành quả xứng đáng. Không đúng sao khi nhìn vào những con số năng suất sản lượng hằng năm, nhìn vào mức thu nhập bình quân của người lao động… Thu nhập bình quân của người lao động ngày càng được cải thiện, nhiều thợ lò đạt mức trên 20 triệu đồng mỗi tháng. Đó là một con số đáng kể trong bối cảnh chung. Năm 2026, Than Mông Dương phấn đấu sản xuất 1,5 triệu tấn than, doanh thu trên 2.300 tỷ đồng đảm bảo thu nhập bình quân cho công nhân ở mức 20,13 triệu đồng mỗi tháng.

Nhưng có lẽ, điều giữ chân họ không chỉ là thu nhập mà còn là sự thay đổi rõ rệt trong điều kiện làm việc và đời sống người thợ. Cơ giới hóa được đẩy mạnh, các hệ thống thông gió, vận tải được nâng cấp. Thợ lò có những bữa ăn ca đảm bảo dinh dưỡng, xe đưa đón, nhà ở tập thể, được khám sức khỏe định kỳ… Cái giữ chân họ còn là niềm tự hào. Mông Dương, trên gương mặt những người tôi đã gặp đều thấy lấp lánh những nụ cười, lấp lánh những ánh mắt rời rợi niềm vui. Những người thợ lò bền bỉ làm việc trong lòng đất, để giữ cho dòng năng lượng của đất nước không bao giờ ngừng chảy.

Khi ca làm kết thúc, chúng tôi bắt đầu hành trình ngược lên mặt đất. Những bước chân lúc này chậm hơn, nặng hơn, mặt mũi đen hơn nhưng ánh mắt của những người thợ vẫn sáng. Khi thùng cũi mở cửa, ánh sáng tràn vào. Tôi chợt thấy chói mắt như vừa bước ra từ một thế giới khác. Những người thợ lò tháo mũ, lau vội mồ hôi rồi lại cười nói với nhau. Một ca làm nữa đã hoàn thành. Tôi đứng lại phía sau, nhìn theo họ và chợt nhớ đến lời một ca khúc mà thợ mỏ vẫn hát “Mỗi khi tan ca, anh và em lại ghi thêm một chiến công...”. 

Cùng chuyên mục