Năm nay, “anh lính” ấy đã bước sang tuổi 85. Nhưng tôi nghĩ, có lẽ chẳng bao giờ ông chịu nhận mình già. Lúc nào cũng thấy ông xăm xắn công việc, đọc đọc chép chép, nói cười rất tươi, “cậu, cậu - tớ, tớ”. Ông bảo: “-Tớ là vậy đấy. Tớ quen với kiểu đó từ khi còn là lính Điện Biên mất rồi”. Ông là Đại tá Kiều Văn Kiên, Nguyên Trưởng Ban Tuyên huấn Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh.
Từ cậu bé mê bộ đội...
Tôi đến gặp ông Kiều Văn Kiên trong căn phòng nhỏ của một ngôi nhà ngay trung tâm thành phố Hạ Long. Trên tường nhà ông chỗ nào cũng thấy hình ảnh bộ đội, ảnh Bác Hồ, ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huân, huy chương của ông và cả ảnh ông khi còn tại ngũ.
Như đoán biết ý tôi, ông Kiên cười bảo: “Tớ mê bộ đội từ nhỏ mà...”. Nâng chén trà nóng lên môi chậm rãi nhấp một ngụm, ông Kiên bắt đầu câu chuyện. Chuyện của ông đưa tôi về với những ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946. Lúc ấy, ông Kiên mới là thiếu niên nhưng đã tình nguyện xung phong vào đội dân công đi bảo vệ Hà Nội. Ông cười kể: “-Mới thanh niên “hoi” thôi nhưng cũng hăng hái đào hào, đắp luỹ xung quanh thủ đô”.
6 tháng sau khi ông làm dân công thì có đợt tuyển quân ngay ở Hà Nội. Ông Kiên mừng thầm vì giấc mơ binh nghiệp của mình sắp thành hiện thực. Nghĩ là làm, ông xung phong khám tuyển bộ đội. Nhưng khổ nỗi bộ đội lại chỉ tuyển người lớn. Đã thế lại còn có đến 50 trẻ em đăng ký nữa mới chết chứ. Ông Kiên buồn rầu nghĩ giả sử có tuyển thiếu niên chắc cũng chẳng đến lượt chú bé gầy còm, ốm yếu như ông. Vậy nhưng, đơn vị đang cần thiếu niên làm liên lạc. Thế là ông cùng với 3 chú bé khác may mắn được tuyển. Sau này, ông không nhớ được ngày mình vào liên lạc nên lấy luôn ngày 19-12-1946 toàn quốc kháng chiến là ngày nhập ngũ.
Bài học đầu tiên mà một chú bé như ông được học khi nhập ngũ là vào bộ đội nếu gặp khó khăn không được khóc, không được đòi về nhà và không được sợ Tây. “Chưa hết đâu, có những bài học mà giờ cậu nghe tớ kể chắc cũng buồn cười. Nhưng cái thời ấy nó thế. Có bài học còn đặt tên là “Tư cách người lính” sau gần 70 năm nay tớ vẫn thuộc. Lại nhớ ngày ấy, khi ăn cơm và trước khi đi ngủ thường đọc” - Ông Kiên tủm tỉm cười. Rồi ông đọc liền một mạch như thể nó đã in sâu vào tiềm thức: “Đã là binh lính chớ có ham mê hút sách rượu chè, bạc cờ đĩ thoả; tập rèn kham khổ, cần kiệm siêng năng, không nên kiêu căng, không nên tự phụ; ôn tồn lễ độ đối với mọi người, trau dồi đạo đức”.
Nói rồi, ông Kiên quay sang nhìn tôi có vẻ cảm thông: “-Có thể giới trẻ như cậu sẽ nghĩ câu khẩu hiệu ấy máy móc. Nhưng thời của chúng tớ nó đã trở thành phương châm sống. Nhờ phương châm ấy mà chúng tớ vượt qua được muôn vàn khó khăn, gian khổ”. Để chứng minh cho câu nói của mình, ông Kiên kể lại những tháng ngày gian khổ khi tham gia bộ đội. Theo lời ông kể, ngày ấy, trên người ông chỉ có đúng mỗi một bộ quần áo. Sau đó, đơn vị cấp cho một bộ quần áo nữa là hai. Cậu nào cậu nấy người ghẻ lở, đi đến đâu... ruồi theo đến đó.
Đói và rét đi liền với nhau. Bộ đội phải tìm đủ thứ để “cải thiện”, từ củ mì, hoa chuối thay cơm, có khi xuống sông đi mò hến nấu cháo ăn. Theo ông Kiên, có lẽ đói quá nên thời đó, mới nảy ra sáng kiến mỗi tháng chuyển nơi đóng quân một lần. Nghĩa là, lại đến làng mới, vận động mỗi nhà dân cho bộ đội ăn “cơm đoàn kết” một bữa. Dân không tiếc bộ đội, mời bộ đội về cho ăn cơm, ăn khoai. Hoạ hiếm có nhà có cá, có thịt gà nữa. “Mỗi nhà có hai, ba chú bộ đội đến ăn cơm. Trước khi đi, chúng tớ thường nói vui với nhau “được đi ăn giỗ bà” rồi đấy” - Ông Kiên cười. Từ những lần chuyển quân như thế, ông Kiên hiểu lúc nào nhân dân cũng là điểm tựa vững vàng nhất của bộ đội ta.
...Đến người lính Điện Biên
Khi Pháp quyết tâm xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ, các đơn vị bộ đội của ta cũng dần hành quân lên Tây Bắc. Đầu năm 1954, ông Kiên lên Điện Biên. Ban đầu, ông được bổ sung vào Đại đội 2, Tiểu đội 8, Trung đoàn 99 vốn là đơn vị đi Nam nhưng sau đó vì chiến cuộc nên ở lại. Rồi ông lại chuyển sang Trung đoàn 77 của Bộ Quốc phòng, đơn vị huấn luyện bổ sung chuyên đưa quân từ đồng bằng lên Điện Biên. Lúc đó, ông là Trung đội trưởng, sau được đặc cách phong lên Đại đội phó.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tổng cộng ba lần ông hành quân đi bộ lên Điện Biên rồi quay về trong vòng 4 tháng. Đơn vị ông tham gia phục vụ chiến dịch, tiếp quân cho chiến đấu nên người ta vẫn gọi vui là “Huấn luyện rồi lại bổ sung, lính đi chiến đấu còn khung gánh nồi”. Nói vậy thôi chứ gian khổ hy sinh thì ông đều phải qua hết chẳng kém gì tuyến đầu. “Đã thế lính lên Điện Biên không phải ai cũng khoẻ mạnh để chịu đựng đói rét vất vả. Đơn vị có một số người là bệnh binh, người ốm. Mỗi người lại phải đeo trên vai khoảng 15kg gạo. Nhiều người không chịu nổi. Anh em khoẻ mạnh chúng tớ lại nhận thêm phần của người ốm mà đeo. Không hiểu sao lúc đó tớ khoẻ thế đấy cậu ạ” - Ông Kiên nhớ lại.
Ông Kiên tiếp chuyện: “-Này nhé, cậu nghĩ xem, đường lên Điện Biên có nhiều chỗ Pháp coi là cửa tử, tập kích suốt ngày. Người ta qua cửa tử một lần thì chứ tớ và anh em trong đơn vị phải qua những sáu lần”. Theo lời kể của ông, những “cửa tử” mà đơn vị ông đã qua là ngã ba Cò Nòi (Mai Sơn, Sơn La) cùng với đèo Pha Đin (Thuận Châu, Sơn La) là ác liệt nhất, địch nổ bom liên tục. Vì thế, hy sinh mất mát là điều khó tránh. Trong đó, lần thứ 3, ông đưa 700 quân từ Phú Thọ lên là hy sinh nhiều nhất. Ông bảo đến tận bây giờ ông vẫn còn ám ảnh về sự mất mát đó. Hàng năm, gặp lại những người còn sống, ông vẫn không khỏi bùi ngùi.
Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Kiên vinh dự được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người. Một năm sau, ông lại được gặp Bác Hồ khi Người lên Điện Biên. “Hồi đó, đơn vị của tớ được điều lên bảo vệ Tây Bắc. Tớ ở Trung đoàn pháo binh làm cán bộ Đại đội” - Ông Kiên kể. Trong lần gặp Bác Hồ, ông Kiên không thể nào quên lời động viên của Người: “Tây Bắc là nơi ta đã mất nhiều xương máu mới giữ được, không giao cho các chú giữ thì giao cho ai giữ”. Tôi nghĩ, hơn ai hết, những người lính đã từng vào sinh ra tử ở Điện Biên như ông mới thấm thía hết lời Bác. Bởi ông đã tận mắt chứng kiến, đã đau đớn xót xa khi đồng đội ngã xuống ngay trước mắt mình, trên tay mình.
Bài học từ ký ức
Đã gần 60 năm trôi qua kể từ chiến thắng Điện Biên Phủ nhưng cựu Đại tá Kiều Văn Kiên thì dường như ký ức ấy vẫn còn nguyên vẹn. Ông vẫn sống cùng những kỷ niệm ấy cả trong đời thực lẫn trong tâm tưởng. Và hơn nữa, những ký ức về một thời lửa đạn còn nhắc nhở ông phấn đấu vươn lên trong suốt cả cuộc đời. Từ một người cần xoá mù chữ, ông đã tự học tự rèn luyện để trở thành giảng viên Trường sĩ quan Chính trị. Giờ đây, dù đã 85 tuổi, ông vẫn thường xuyên tìm tài liệu về chiến tranh cách mạng, về Điện Biên Phủ trên mạng Internet để đọc…
Hỏi ông sao đến tuổi này rồi không tự cho phép mình nghỉ ngơi đi, ông bảo có lẽ đã quen với cái kiểu của anh lính Điện Biên rồi. Và hơn hết, từ sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đã tìm được cho mình một người “Thầy” để cả đời ngưỡng vọng đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau này, ông lại có được vinh hạnh nhiều lần gặp Đại tướng. Mỗi lần gặp Đại tướng, ông Kiên lại học được một điều gì đó rất tâm đắc.
Lục lại những bức ảnh kỷ niệm đã ố màu thời gian, đại tá Kiều Văn Kiên bùi ngùi kể chuyện. Lần thứ nhất ông gặp Đại tướng vào khoảng năm 1991 hay năm 1992 gì đó ông cũng không nhớ nữa. Duy chỉ có một điều ông không bao giờ quên là câu dặn dò của Đại tướng: “Điều cuối cùng tôi muốn căn dặn các đồng chí là: “Cựu nhưng không được cũ”. Câu nói của Đại tướng luôn vang lên trong ông như một phương châm sống.
Lần thứ hai, rồi thứ ba thứ tư cũng vậy. Lần nào, Đại tướng cũng có căn dặn vừa thấm thía lại vừa rất ví von hình ảnh như thế. Có lần, Đại tướng căn dặn: Hiện nay đại dịch “Si-đa” đang là tai hoạ của thế giới và Việt Nam... Cựu chiến binh không được để “Si-đa” về chính trị là không thể cứu chữa được! Lần khác Đại tướng lại nhắn nhủ: “Muốn kiến quốc cũng như “kháng chiến”, không chỉ dũng cảm là đủ, mà cần phải ra sức học tập, học tập suốt đời”. Kể đến đây, ông Kiên quay sang tôi có vẻ tâm đắc: “Câu nói đó của Đại tướng như tiếp thêm cho tớ nguồn sức mạnh. Cậu thấy đấy, đến giờ tớ vẫn học đó thôi. Khi học hỏi, tìm tòi tớ thấy mình trẻ ra”.
“Không ngờ lần gặp Đại tướng vào năm 2000 lại là lần cuối cùng. Giờ muốn gặp Đại tướng thì…” - Ông Kiều Văn Kiên buông lửng câu nói. Với ông Kiên, giọng nói ấm vang, dí dỏm, cử chỉ ân cần của vị Đại tướng, “Anh Văn của đồng đội” không bao giờ phai mờ trong tâm trí. Để cho đến tận bây giờ ông vẫn noi theo cốt cách ấy, lối sống ấy. Ông Kiên khoe, từ lúc về hưu đến giờ, ông vẫn dậy đúng giờ, sáng thể dục, chiều đi bơi, đọc sách báo, viết lách, nói chuyện về lịch sử, tham gia vào mọi hoạt động xã hội. Có đến 21 năm ông được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP Hạ Long.
Chào ông tôi xin phép ra về. Tiễn tôi ra tận cửa, ông Kiên còn nói với theo: “Tớ tự hào và cũng thấy mình là người may mắn. Cậu cứ nghĩ xem, tớ sinh năm 1929, sống qua thế kỷ 20 đầy biến động dữ dội, được gặp cả Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Giờ còn khoẻ để “chòi” sang thế kỷ 21 được 14 năm, chứng kiến quê hương đất nước đổi mới. Hỏi còn gì vui bằng?”.
Huỳnh Đăng