Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc học mầm non có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến việc hình thành, phát triển nhân cách, thể chất, trí tuệ, thẩm mỹ của thế hệ trẻ. Tuy nhiên, hiện ngành học này chưa được quan tâm, đầu tư xứng tầm. Vừa qua, UBND tỉnh đã có nhiều quyết sách quan trọng ưu tiên đầu tư cho phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng việc triển khai các chính sách đó ở nhiều nơi, nhiều cấp còn gặp khó khăn...
Trường Mầm non Hoa Mai (TX Móng Cái) được công nhận đạt chuẩn quốc gia nhưng hiện diện tích của nhà trường rất chật hẹp.
Thiếu cơ sở vật chất
Quảng Ninh có 8/14 huyện, thị xã, thành phố là miền núi, biên giới và hải đảo. Những nơi này tập trung 20% tổng dân số, không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, nên chiếm đa số tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh. Hiện cả tỉnh có 155 trường mẫu giáo, mầm non và 319 cơ sở giáo dục mầm non. Số trường mầm non, mẫu giáo chủ yếu được mở ở những vùng thuận lợi. Còn ở các xã miền núi, vùng cao, các thôn, khe bản mới chỉ mở được các cơ sở giáo dục mầm non quy mô nhỏ hoặc các lớp gắn với các trường phổ thông. Theo số liệu thống kê của Sở GD-ĐT, trong số 319 cơ sở giáo dục mầm non có tới 42 cơ sở phải gắn với trường phổ thông do không đủ điều kiện để thành lập trường hoặc nhóm lớp riêng biệt. Đáng chú ý là có 31/155 trường mẫu giáo, mầm non đã thành lập nhưng chưa hề có cơ sở vật chất (quỹ đất, phòng học). Với đặc thù các lớp học mầm non phải được mở đến tận thôn, khe, bản, nhưng cho đến nay, toàn tỉnh vẫn còn nhiều thôn, khe, bản chưa có lớp học mầm non (theo tính toán, đến năm 2010, cần mở ít nhất là 174 điểm mầm non gắn với các điểm trường phổ thông vùng khó khăn). Vì vậy nhiều trẻ em ở những nơi này chưa có điều kiện để đến lớp.
Hiện cả tỉnh có 2.311 phòng học, trong đó chỉ có 540 phòng học kiên cố, 1.152 phòng học cấp 4, 111 phòng học tạm, 23 phòng học tranh, tre, nứa, lá (rơi vào các lớp hệ mầm non công lập) và 485 phòng học phải mượn của nhà dân, các trường phổ thông, nhà văn hoá khu dân cư, nhà thờ, thậm chí cả nhà kho của các đơn vị trên địa bàn. Số cơ sở mầm non có nguồn nước sạch chỉ đạt 50% (237 cơ sở); nhóm, lớp có công trình vệ sinh đạt yêu cầu chiếm 41,5%. Việc đầu tư sân chơi, đồ chơi ngoài trời và bếp ăn hợp vệ sinh, đúng quy cách cho các trường, cơ sở mầm non cũng rất hạn chế (chỉ có 43,4% số cơ sở mầm non có sân chơi, đồ chơi ngoài trời và 45,1% số cơ sở có bếp ăn hợp vệ sinh, đúng quy cách)... Hầu hết các trường mầm non thiếu các phòng hoạt động chức năng; trang thiết bị, đồ dùng dạy học, đồ chơi đều thiếu theo quy định của Bộ GD-ĐT. Sự thiếu hụt này không chỉ ở các trường, lớp, cơ sở mầm non công lập, bán công hay miền núi, vùng cao mà tồn tại cả trong các cơ sở mầm non tư thục và ngay ở những vùng đô thị, thuận lợi có điều kiện kinh tế phát triển.
Không chỉ nghèo nàn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, ngành học mầm non còn vướng cả về vấn đề biên chế của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên. Theo thống kê của Sở GD-ĐT, hiện toàn tỉnh còn 110 trường mầm non thiếu biên chế cán bộ quản lý; 64 trường chưa đề bạt đủ cán bộ quản lý theo quy định vì không có chỉ tiêu biên chế; 46 trường đã đề bạt 51 cán bộ quản lý nhưng chưa được tuyển vào biên chế; riêng Trường Mầm non Hải Sơn (Móng Cái) không có cán bộ quản lý... Việc thiếu biên chế cho các trường này do hầu hết số biên chế hiện tại tập trung ở khu vực thành thị, nông thôn, vùng thuận lợi (chiếm 84% tổng biên chế giáo viên mầm non toàn tỉnh). Trong khi ngành lại không thể điều chuyển biên chế từ nơi thừa sang nơi thiếu. Phần lớn số biên chế ở nơi thừa được ngành tiếp nhận từ ngành Bảo vệ bà mẹ trẻ em năm 1987 và từ nhà trẻ, mẫu giáo trong các đơn vị, doanh nghiệp năm 2001. Hầu hết số biên chế trên đều tuổi cao, trình độ, năng lực hạn chế không đủ điều kiện để đề bạt làm cán bộ quản lý và luân chuyển đến công tác tại các vùng khó khăn còn thiếu biên chế. Một trong những đặc thù của ngành học mầm non ở vùng khó khăn là các điểm được gắn với các trường phổ thông, nhưng thực tế các trường phổ thông lại không có hiệu phó đúng chuyên môn cấp học. Bên cạnh đó, tỷ lệ giáo viên người dân tộc thiểu số chưa nhiều nên rất khó khăn trong việc dạy Tiếng Việt cho trẻ em vùng dân tộc; nhiều giáo viên mầm non hợp đồng chưa được mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; phần lớn số giáo viên trình độ dưới chuẩn (106 người) rơi vào các cơ sở giáo dục mầm non tư thục...
Tỷ lệ trẻ đến lớp đạt thấp
Từ thực trạng trên có thể thấy, ngành học mầm non Quảng Ninh đang vướng phải rất nhiều “rào cản”. Ngoài cái khó chung của ngành thì ở mỗi địa phương, mỗi khu vực lại có những cái khó riêng, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý, tổ chức hoạt động, huy động trẻ đến lớp, cũng như việc nâng cao chất lượng giáo dục cho bậc học.
Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái, Yên Hưng, Đông Triều là những địa phương có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế, nên có điều kiện để đầu tư cho giáo dục mầm non. ở những nơi này, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và thu nhập, đời sống của cán bộ giáo viên tương đối được đảm bảo. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục mầm non cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của đông đảo người dân. Trong số 6 địa phương kể trên chỉ có 5 địa phương (trừ Uông Bí) xây dựng được 7 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Ngoài những trường đạt chuẩn quốc gia có đủ điều kiện, trang thiết bị dạy học để đảm bảo chất lượng giáo dục theo quy định, còn lại phần lớn các trường, các cơ sở giáo dục mầm non đều diện tích nhỏ hẹp, thiếu phòng hoạt động chức năng, điều kiện chăm sóc trẻ nghèo nàn không thể đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ của người dân. ở mỗi xã, phường, thị trấn thường chỉ có 1 trường mầm non hoặc 1 cơ sở giáo dục mầm non, trong khi đó, địa bàn của các phường, xã, thị trấn thường rộng, dài, mà đặc thù của ngành học mầm non là phải gắn với khu dân cư do độ tuổi học sinh thấp (3 tháng - 5 tuổi). Khắc phục điểm yếu này của các trường mầm non, cơ sở giáo dục mầm non công lập, bán công, loại hình mầm non tư thục đã rất phát triển (188 nhóm trẻ/6 địa phương). Thế nhưng, nhiều nhóm trẻ tư thục không đảm bảo được các yêu cầu tối thiểu về cơ sở vật chất, bếp ăn, nguồn nước sạch, nhà vệ sinh đúng quy chuẩn. Đáng nói hơn là những người quản lý, phụ trách lớp phần lớn là không có chuyên môn, nghiệp vụ. Các nhóm trẻ tư thục hoạt động chủ yếu là trông trẻ.
Vùng thuận lợi đã vậy, vùng sâu, vùng xa còn khó khăn hơn nhiều. Cả 8 huyện miền núi của tỉnh: Hoành Bồ, Ba Chẽ, Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Hà, Tiên Yên, Vân Đồn, Cô Tô không có địa phương nào xây dựng được trường đạt chuẩn quốc gia và chỉ có 21 nhóm trẻ tư thục. Nhiều điểm mầm non, mẫu giáo phải gắn với các điểm trường của bậc phổ thông, lớp học tạm bợ mượn từ nhà dân, nhà văn hoá, cho đến nhà kho...
Từ những lý do trên, tỷ lệ huy động trẻ ra lớp, chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở các địa phương thường không cao. Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi mầm non đến lớp trong toàn tỉnh chỉ đạt 49,98%, trong đó trẻ trong độ tuổi nhà trẻ 16,46%, mẫu giáo 73,32%. Hạ Long là địa phương có tỷ lệ trẻ đến lớp dưới 3 tuổi (từ 18 tháng - 36 tháng) đến lớp cao nhất tỉnh cũng chỉ đạt 30,26%. Đầm Hà có tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi thấp nhất tỉnh là 3,26%. Vẫn còn trẻ bị suy dinh dưỡng trong các trường, các cơ sở giáo dục mầm non: 3,46% so với tổng số trẻ đến lớp (trong đó công lập 1,56%; bán công 0,69%; tư thục 1,2%). Riêng trẻ mẫu giáo (3 - 5 tuổi), tỷ lệ này trên toàn tỉnh là 5,98% (trong đó công lập 4,3%; bán công 0,94%; tư thục 0,74%).
Với hiện trạng cơ sở vật chất hiện nay, các địa phương, các trường, các cơ sở giáo dục mầm non phải cố gắng lắm mới có thể thu xếp để tiếp nhận trẻ có độ tuổi từ 18 tháng đến 5 tuổi. Không ít trường, cơ sở giáo dục mầm non vì lý do cơ sở vật chất, đội ngũ nên phải dành ưu tiên tiếp nhận trẻ 5 tuổi rồi mới đến trẻ 3-4 tuổi... Vì vậy việc thực hiện Quyết định số 14/Bộ GD-ĐT ngày 7-4-2008 (quy định tất cả các trường mầm non, mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ... thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi) vẫn còn bỏ ngỏ, trong khi không ít gia đình có nhu cầu gửi trẻ. Tìm hiểu tại một số trường mầm non ở Hạ Long, Cẩm Phả được biết: Để tiếp nhận trẻ từ 3 tháng, yêu cầu đầu tiên phải có phòng rộng đủ tiêu chuẩn, cách biệt với các lớp trẻ lớn, phải có cũi riêng cho từng cháu. Với trẻ dưới 18 tháng, cần có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng phải hoàn toàn khác biệt, phải có nhân viên y tế tại chỗ... Những điều kiện này tất cả các nhà trường đều không thể đáp ứng được.
Những khó khăn về cơ sở vật chất dẫn đến chất lượng chăm sóc trẻ không đảm bảo, nhiều trẻ em nhất là ở vùng sâu, vùng xa không được đến lớp, các em không được hưởng những điều kiện chăm sóc tốt nhất. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả giáo dục đào tạo trong những năm tháng sau này khi các em bước vào bậc tiểu học, THCS, THPT...
(Còn nữa)
—————————
Bài 2: Giáo dục mầm non ngoài công lập - khó khăn trong công tác quản lý