Ca dao Vùng mỏ trước cách mạng: Giá trị văn hoá phi vật thể quý báu của Quảng Ninh

Theo cuốn Ca dao Vùng mỏ, xuất bản năm 2010 của Hội Văn nghệ dân gian Quảng Ninh và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, đã nhiều lần ca dao Vùng mỏ được phát hiện, khai thác và bảo tồn.

Một góc cảng than Cẩm Phả năm 1917. Ảnh: Tư liệu
Một góc cảng than Cẩm Phả năm 1917. Ảnh: Tư liệu

Theo ông Tống Khắc Hài, người đã có nhiều năm nghiên cứu, tìm hiểu về văn hoá Vùng mỏ, thì công trình đề cập đến ca dao Vùng mỏ đầu tiên sau hoà bình lập lại có lẽ là cuốn sách Đời sống thợ mỏ thời Tây qua một số bài ca dao của Hoàng Anh Vân - Biên tập viên tạp chí Văn nghệ Vùng mỏ. Đây là cuốn khảo cứu dày khoảng 20 trang, mang tính chất là tài liệu tuyên truyền là chủ yếu…

Đến khoảng giữa năm 1970, xác định việc sưu tầm, nghiên cứu kho tàng văn học dân gian của tỉnh nhà, trong đó có phần ca dao Vùng mỏ trước Cách mạng tháng Tám, là một trong những nhiệm vụ quan trọng, Hội VHNT tỉnh đã thành lập nhóm sưu tầm gồm ba người là ông Tống Khắc Hài, ông Khắc Lương và bà Vũ Thị Gái; trong đó ông Tống Khắc Hài là chủ biên. Nhóm đã sưu tầm, biên soạn và cho ra đời cuốn Ca dao Vùng mỏ (trước cách mạng), với 160 trang, xuất bản năm 1981.

Năm 2010, ngay sau khi được thành lập, Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất và phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tiếp tục sưu tầm bổ sung và tái bản cuốn Ca dao Vùng mỏ…

Ca dao Vùng mỏ (giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám) ra đời trong  bối cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước. Và do đặc điểm hoàn cảnh nước ta là một nước nông nghiệp, nên đại bộ phận công nhân mỏ than Quảng Ninh đều xuất thân từ nông dân. Họ vốn là dân cày, một số ít là thợ thủ công bị bần cùng hoá và phá sản do sự chèn ép và bóc lột của tư bản Pháp. Công nhân mỏ nói riêng cũng như công nhân Việt Nam nói chung, ngay từ khi mới ra đời đã bị đoạ đày, áp bức đến kiệt quệ. Điều đó đã thể hiện rất rõ nét qua những bài ca dao của thợ mỏ. Và cũng chính những bài ca dao ấy đã được dùng làm vũ khí đấu tranh cách mạng của người thợ. Rõ nhất là trong thời điểm bùng nổ cuộc bãi công của thợ mỏ năm 1936: “Bốn chữ S.F.C.T/ Công ty Pháp ở Bắc kỳ làm than/ Tài nguyên than mỏ nước Nam/ Thằng Tây làm chủ - mình làm cu-li…”. Hoặc: “Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều/ Cuộc đời phu mỏ đói nghèo đắng cay/ Giam chân chốn sở than này/ Thân con ắt bón gốc cây giữa rừng”…

Người thợ mỏ cảm thấy cuộc sống đang bị dồn vào đường cùng: “Chưa đi chưa biết Cửa Ông/ Đến đây mới biết đường không lối về/ Phu sắng tẩy ai thuê mà đánh/ Thẻ sàng than, ai bán mà mua…”… Hoặc: “Ở đây đói rét quanh năm/ đi câu cá: Rủi, đi săn: Hổ vồ… Khu Bò Đái xương khô rải rác/ Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh/ Lạc loài bể khổ mông mênh/ Thân vờ xơ xác lênh đênh chết mòn…”. Hay như: “Chưa đi chưa biết Vàng Danh/ Má hồng để lại, má xanh mang về…”. Những hình ảnh tương phản của chủ mỏ lại hiện ra để thấy đời phu: “Có kẻ sang, có người giàu/ Nhất bọn chủ thầu làm khoán mỏ than/ Ngồi mát mà ăn bát vàng/ Bóc sức lao động hàng ngàn dân phu/ Đã xe nhà, lại ô tô/ Chồng làm ông chủ, vợ như bà hoàng…”.

Hàng ngàn câu ca dao đã nói lên nỗi lòng của người thợ trong đêm dài tăm tối của kiếp phu mỏ, từ đó khắc hoạ lên cả bức tranh xã hội với hai màu đen trắng rất rõ rệt. Đó là cảnh chủ mỏ giàu sang còn phu mỏ thì nghèo kiết, khốn cùng với điều kiện lao động cực nhọc… Nhưng bên cạnh đó, ca dao Vùng mỏ ở chừng mực nào đó, cũng thể hiện cả sự lạc quan của người thợ. Dù trong đắng cay, dù trong bất hạnh thì họ vẫn có những lời ca bay bổng để động viên nhau vượt qua những khó khăn đoạ đày. Họ không vì thế mà nhụt ý chí trước cuộc sống khốn cùng. Chính vì tình yêu cuộc sống, lạc quan như thế mà họ đã vượt qua. Chính những câu thơ ca hò vè này như một sự cứu rỗi cho tinh thần con người. Thông qua lao động sản xuất, tình yêu cuộc sống, tình yêu thiên nhiên, những người thợ đã góp phần làm ra những câu ca dao độc đáo, đặc sắc của Vùng mỏ. Hay nói cách khác, đây cũng là “gia tài” văn hoá mà những người thợ mỏ đầu thế kỷ đã để lại cho Quảng Ninh, là một pho sử thi khá đầy đủ về những địa danh, những công cụ sản xuất, lối sống v.v.. của thợ mỏ đầu thế kỷ hai mươi. Và, đó là một mạch của dòng chảy riêng của văn hoá thợ mỏ trong dòng chảy chung của văn hoá dân tộc. Đây có thể coi là một giá trị văn hoá phi vật thể vô cùng quý báu của Quảng Ninh.

Vũ Thảo Ngọc (CTV)

Cùng chuyên mục