Để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, những năm qua, Quảng Ninh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất, thu hút đầu tư và hình thành các chuỗi giá trị. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, một số chính sách vẫn bộc lộ không ít hạn chế, chưa đi thực sự vào cuộc sống, đòi hỏi phải được điều chỉnh, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Nhằm tiếp thêm động lực cho lĩnh vực nông nghiệp, tỉnh đã sớm chủ động xây dựng một hệ thống chính sách tương đối đồng bộ. Trong đó, mức hỗ trợ 100% về giống, kết hợp hỗ trợ lãi suất vay vốn 6%/năm/chu kỳ trồng rừng gỗ lớn, đã tạo động lực mạnh mẽ cho người dân chuyển đổi phương thức sản xuất. Chỉ sau 2 năm, đã có gần 1.200 hộ tham gia với diện tích rừng trồng trên 1.400ha.
Trong năm 2025, ngân sách tỉnh đã cấp trên 29 tỷ đồng bảo vệ rừng cho các địa phương, đơn vị, hộ gia đình với khoảng 78.661ha, gồm: 18.575ha rừng đặc dụng, 47.634 ha rừng phòng hộ và 12452ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Điều này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần nâng cao chất lượng rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, thể hiện sự chuyển đổi từ “lâm nghiệp đơn mục tiêu” sang “lâm nghiệp đa giá trị”.
Song song với đó, chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm và Chương trình OCOP đã tạo chuyển biến rõ nét. Trong 5 năm, tỉnh đã phê duyệt 52 dự án liên kết với gần 1.000 tổ chức, cá nhân tham gia, tổng kinh phí trên 36 tỷ đồng. Đây là nền tảng quan trọng để từng bước hình thành chuỗi giá trị nông sản, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm địa phương. Ngoài ra, tỉnh cũng đã chủ động ban hành các chính sách hỗ trợ khắc phục thiên tai, dịch bệnh trong nông nghiệp, tạo “tấm đệm an toàn” cho sản xuất.
Dù đạt được nhiều kết quả, việc triển khai các chính sách vẫn bộc lộ những “điểm nghẽn” đáng chú ý. Trong đó có thể kể đến Nghị quyết số 194/2019/NQ-HĐND ngày 30/7/2019 của HĐND tỉnh về việc ban hành chính sách khuyến khích đầu tư, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh. Nghị quyết này không chỉ tích hợp 3 chính sách của Trung ương (Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, Nghị định số 109/2018/NĐ-CP), mà còn có những chính sách ưu đãi đặc thù của tỉnh. Cụ thể như: Hỗ trợ đầu tư khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; hỗ trợ liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm thuộc Chương trình OCOP; hỗ trợ đầu tư cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm...
Tuy nhiên sau nhiều năm triển khai, các doanh nghiệp, HTX gần như không tiếp cận được các chính sách của nghị quyết. Minh chứng rõ nét và đáng suy nghĩ là cả 6 dự án nông nghiệp được thu hút trong giai đoạn 2021-2025 với tổng vốn đăng ký khoảng 1.700 tỷ đồng đều không thuộc danh mục được hưởng chính sách ưu đãi theo Nghị quyết số 194/2019/NQ-HĐND.
Những nguyên nhân chính được Sở NN&MT chỉ ra là: Việc tuân thủ hợp đồng liên kết của nông dân còn chưa chặt chẽ, vẫn còn hiện tượng người dân tự phá vỡ hợp đồng liên kết khi giá sản phẩm ngoài thị trường tăng cao, dẫn đến khó khăn khi thực hiện liên kết theo yêu cầu của nghị quyết. Nhiều doanh nghiệp, HTX chưa xây dựng được thị trường ổn định, dẫn đến khó mở rộng sản xuất, phát triển liên kết, phát triển chuỗi liên kết. Nhiều nông dân, tổ hợp tác, HTX còn thiếu vốn, không có kinh phí đối ứng để thực hiện dự án, gây khó khăn cho công tác đề xuất triển khai các dự án...
Để các chính sách thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển, theo nhiều doanh nghiệp, HTX, tỉnh cần có những điều chỉnh mang tính căn cơ, đồng bộ. Trước hết, cần rà soát, điều chỉnh danh mục dự án ưu tiên theo hướng linh hoạt, sát với nhu cầu thị trường và xu hướng đầu tư. Việc đồng bộ với các nghị định mới của Chính phủ sẽ là cơ sở quan trọng để tỉnh thiết kế lại hệ thống chính sách hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, tỉnh cần tăng cường các cơ chế ràng buộc và bảo đảm thực thi hợp đồng trong liên kết sản xuất.
Không chỉ dừng ở hỗ trợ tài chính, chính sách cần chú trọng xây dựng niềm tin thị trường, thông qua các công cụ như bảo hiểm nông nghiệp, quỹ bảo lãnh, hay cơ chế xử lý vi phạm hợp đồng. Đồng thời cần có chính sách thúc đẩy tích tụ đất đai và phát triển sản xuất quy mô lớn. Cùng với đó, cần đẩy mạnh đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, thay đổi tư duy sản xuất của nông dân từ sản xuất "cái mình có" sang sản xuất "cái thị trường cần".
Về nguồn lực, nhiều doanh nghiệp cũng cho rằng cần thiết kế các gói tín dụng linh hoạt hơn, giảm yêu cầu vốn đối ứng, hoặc có cơ chế hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng yếu thế. Việc cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực đấu thầu, để phù hợp với đặc thù của sản xuất nông nghiệp cũng là yếu tố quan trọng. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, cần tiếp tục phát huy hiệu quả của các chính sách hiện hành, đồng thời mở rộng sang phát triển kinh tế dưới tán rừng, du lịch sinh thái, tín chỉ carbon… nhằm khai thác tối đa giá trị đa mục tiêu của rừng.