Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều và giải pháp thoát nghèo ở Quảng Ninh

Chính sách xóa đói giảm nghèo đã trở thành Chương trình Mục tiêu quốc gia ở Việt Nam từ năm 1998 đến nay và được đưa vào Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ và các địa phương theo định kỳ.

Người dân bản Lý Quáng, xã Quảng Sơn (Hải Hà) cấy lúa vụ mùa.
Người dân bản Lý Quáng, xã Quảng Sơn (Hải Hà) cấy lúa vụ mùa.

Trước năm 2015, theo chuẩn nghèo các giai đoạn thì nghèo được hiểu là tình trạng hộ gia đình hoặc cá nhân không đủ tiền (kể cả trị giá hiện vật) để chi tiêu dùng các mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm thiết yếu trong đời sống đảm bảo duy trì các nhu cầu thiết yếu của con người. Trị giá tiền và hiện vật của các hộ gia đình hoặc của các cá nhân được thể hiện thông qua thu nhập bình quân đầu người trong năm. Tuy nhiên, qua các giai đoạn triển khai chương trình theo chuẩn nghèo đơn chiều đã có những hạn chế nhất định.

Để khắc phục những hạn chế của nghèo đơn chiều (nghèo tiền tệ) và hòa cùng xu hướng chung của thế giới, ngày 15/9/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”; ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg “Về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”. Áp dụng chuẩn nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ninh đã có những thay đổi đáng kể về hộ nghèo, cận nghèo.

Năm 2016, Quảng Ninh có tổng số hộ nghèo là 11.582, chiếm tỷ lệ 3,39%, năm 2015 là 15.340 hộ, chiếm tỷ lệ 4,56%. Như vậy, trong năm 2016, tỉnh Quảng Ninh đã giảm được 3.758 hộ nghèo (giảm 1,17% so với năm 2015).

Về số hộ cận nghèo, năm 2015, Quảng Ninh có 10.586 hộ chiếm tỷ lệ 3,15% sang đến năm 2016 số hộ cận nghèo là 11.035 hộ, chiếm tỷ lệ 3,23%. Như vậy tổng số hộ cận nghèo của tỉnh có chiều hướng tăng.

Cụ thể, năm 2016 đã tăng 449 hộ (tăng 0,08% so với năm 2015). Với con số hộ nghèo, cận nghèo của Quảng Ninh trong 2 năm 2015 và 2016 cho thấy: Số hộ nghèo của năm 2016 đã giảm so với năm 2015 là 3.758 hộ nhưng số hộ cận nghèo lại tăng lên 449 hộ (Quyết định 495/QĐ-LĐTBXH ngày 22-6-2017 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội). Điều này cho thấy Quảng Ninh cần có cách chính sách để quan tâm hơn nữa đến các số hộ cận nghèo để giúp các hộ cận nghèo vươn lên không để rơi xuống ngưỡng nghèo.

Cũng trong năm 2016, theo Bảng xếp hạng mức độ nghèo giữa các tỉnh, thành phố năm 2016 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (theo thứ tự từ cao đến thấp) cho thấy xếp hạng theo tổng số hộ nghèo thì Quảng Ninh đứng ở vị trí thứ 55/63 tỉnh thành trong cả nước đã tăng 1 bậc so với năm 2015 (năm 2015 ở vị trí 54); xếp hạng dựa theo tỷ lệ hộ nghèo thì tỉnh ở vị trí 53/63 tỉnh thành của cả nước, tăng 1 bậc so với năm 2015 (năm 2015 xếp hạng thứ 54).

Xét chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản gồm: Y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch-vệ sinh, thông tin. Trong năm 2016, tỉnh Quảng Ninh có các chỉ số đo lường thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số) thì số hộ nghèo thiếu hụt về chỉ số nhà tiêu hợp vệ sinh chiếm tỷ lệ cao nhất là 5.991 hộ tương ứng với tỷ lệ 51,73% so với tổng số hộ nghèo của tình năm 2016; tiếp là chỉ số về chất lượng nhà ở là 4.793 hộ ( 41,38%) và và diện tích nhà ở là 3.545 hộ ( 30,61%). Điều này hoàn toàn logic với nhau khi thiếu hụt các chỉ số về chất lượng nhà ở thì nó cũng kéo theo các chỉ số về diện tích và chỉ số hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh cũng thiếu vì nhà ở và các công trình vệ sinh thường đi kèm với nhau. Nếu chất lượng nhà ở chưa tốt thì rõ ràng diện tích để ở và các công trình vệ sinh phụ trợ chắc chắn cũng không thể tốt được.

Tiếp đến là sự thiếu hút của chỉ số sử dụng dịch vụ viễn thông 1.852 hộ (15,99%), tài sản phục vụ tiếp cận viễn thông là 1.527 hộ (chiếm 13,18%) điều đó cho thấy chỉ số về thông tin của các hộ nghèo tại tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, nó chỉ đứng sau chỉ số về nhà ở. Các chỉ số về trình độ giáo dục người lớn thiếu hụt ở 1.313 hộ (11,34%), chỉ số bảo hiểm y tế thiếu hụt ở 1.289 hộ (11,13%). Nhóm các chỉ số thiếu hụt ở mức độ ít nhất ở tỉnh tập trung vào chỉ số tiếp cận dịch vụ y tế có 647 hộ thiếu hụt chiếm tỷ lệ ( 5,59%), chỉ số tình trạng đi học của trẻ em thiếu hụt ở 445 hộ chiếm tỷ lệ (3,93%). Qua 2 chỉ số về tiếp cận dịch vụ y tế và tình trạng đi học của trẻ em cho thấy tỉnh đã làm khá tốt về vấn đề y tế, giáo dục nên tỷ lệ thiếu hụt chiếm tỷ lệ nhỏ.

Từ việc tổng hợp các chỉ số đo lường thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của Quảng Ninh cho thấy tiếp cận nghèo theo phương pháp đánh giá nghèo đa chiều giúp các nhà quản lý xã hội có cái nhìn tổng quát, đa chiều không chỉ dựa trên mức đánh giá về thu nhập mà còn dựa trên sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản. Trong những năm tiếp theo tỉnh cần chú trọng tập trung vào các chính sách về nhà ở cho người nghèo, từ nhà ở sẽ cải thiện được các chỉ số hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, thông tin, nước sạch, y tế và giáo dục. Phương pháp đánh giá nghèo đa chiều thực sự rất hữu ích vì nó đã chỉ ra được những chiều thiếu hụt sâu ở người nghèo trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, cũng từ đó giúp nhà quản lý biết để tập trung vào các chính sách mà người nghèo đang thiếu tạo cơ hội để họ thoát nghèo.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững, Ban chỉ đạo giảm nghèo các cấp của tỉnh Quảng Ninh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về giảm nghèo. Các chế độ chính sách đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo được thực hiện đồng bộ kịp thời đầy đủ góp phần giúp hộ nghèo ổn định vươn lên thoát nghèo. Riêng về tiêu chí đời sống, thu nhập, tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo xây dựng các dự án, phương án phát triển sản xuất, gắn với xây dựng, phát triển các sản phẩm địa phương theo Chương trình “Tỉnh Quảng Ninh mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP); rà soát, phân tích, xác định nguyên nhân nghèo của từng hộ nghèo, danh sách hộ nghèo không thể có điều kiện thoát nghèo để chuyển những hộ này sang nhóm bảo trợ xã hội và đề xuất cơ chế, chính sách để hỗ trợ phù hợp; trước mắt đã đề xuất hỗ trợ thêm 25 triệu đồng từ ngân sách tỉnh đối với 45 hộ tại các xã ĐBKK để cải thiện về nhà ở thuộc Đề án 167 giai đoạn II của tỉnh.Về hạ tầng kinh tế-xã hội, tỉnh đã  chỉ đạo các huyện có xã, thôn ĐBKK thực hiện việc đầu tư đối với 132 danh mục công trình hạ tầng thiết yếu trên địa bàn 22 xã ĐBKK, 2 xã biên giới và 11 thôn, bản ĐBKK với tổng số vốn được phân bổ là 169,320 tỷ đồng. Đến hết ngày 31-5-2017 đã có 37/132 công trình đang triển khai thi công, 91/132 công trình đã mở thầu và 4/132 công trình đang tổ chức mời thầu. Về văn hóa-xã hội, tỉnh đang tiếp tục hoàn thiện các công trình nước sinh hoạt tập trung, phân tán thực hiện theo Đề án hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 755/QĐ-TTg; đồng thời chủ trì tham mưu rà soát các đối tượng tiếp tục cần được hỗ trợ về nước sinh hoạt để đưa vào Đề án thực hiện chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn 2017 - 2020 theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 3-10-2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Với những cách làm hiệu quả, tính đến hết 30-6-2017, số hộ nghèo trong toàn tỉnh còn 11.497 hộ, giảm 85 hộ so với kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo cuối năm 2016; số hộ cận nghèo là 11.239 hộ, tăng 212 hộ so với kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo cuối năm 2016. Các hộ cận nghèo bổ sung là những hộ mới thoát nghèo, một số hộ gặp rủi ro trong năm đề nghị xét duyệt bổ sung. Tỷ lệ hộ nghèo ước giảm 0,3% so với kế hoạch đề ra (kế hoạch 0,7%/năm 2017).

Th.s. Phạm Thị Thu Trang (Đại học LĐXH)-Trần Thị Minh (Phòng LĐ,TBXH Hải Hà)

Cùng chuyên mục