Chiến tranh đã lùi xa, nhưng di chứng chất độc da cam/dioxin vẫn âm thầm đeo bám nhiều gia đình, để lại nỗi đau dai dẳng. Trước những mất mát ấy, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cùng sự chung tay của cả hệ thống chính trị và cộng đồng đang trở thành điểm tựa, giúp các nạn nhân da cam ở Quảng Ninh vượt qua nghịch cảnh, từng bước ổn định cuộc sống.
Nỗi đau hiện hữu
Trong căn nhà nhỏ chưa đầy 20m² tại tổ 3, khu Trần Hưng Đạo 1 (phường Hồng Gai), 3 thế hệ gia đình ông Vũ Thanh Hòa (73 tuổi) vẫn lặng lẽ nương tựa vào nhau. Ngôi nhà xây dựng từ năm 2017 nay đã xuống cấp, chật hẹp và ẩm thấp, chất chứa bao nhọc nhằn của một gia đình mang di chứng chất độc da cam qua nhiều thế hệ.
Năm 1971, ông Hòa nhập ngũ, tham gia lực lượng vận tải trên đường Trường Sơn. Đất nước thống nhất, ông trở về lập gia đình và bắt đầu cuộc sống mới. Nhưng những di chứng của chiến tranh vẫn âm thầm bám theo ông. Khi bản thân thường xuyên đau ốm, con bệnh tật, ông mới biết mình là nạn nhân của chất độc da cam/dioxin.
Ở tuổi xế chiều, sức khỏe ngày càng suy giảm, cuộc sống của cả gia đình ông Hòa chủ yếu dựa vào khoản trợ cấp hơn 5 triệu đồng/tháng. Con gái thường xuyên đau yếu, cháu ngoại đang tuổi đi học. Mọi sinh hoạt của 3 thế hệ đều gói gọn trong căn nhà nhỏ. Ông Hòa chia sẻ: Hiện nay Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến người có công. Điều tôi mong mỏi nhất là được các cơ quan chức năng xem xét cấp quyền sử dụng đất để gia đình có nơi ở ổn định lâu dài, yên tâm sinh sống.
Cũng mang trên mình di chứng của chiến tranh, ông Nguyễn Văn Bính (khu Trần Hưng Đạo 5, phường Hồng Gai) đang từng ngày chống chọi với bệnh tật. Năm 1974, khi mới 17 tuổi ông Bính nhập ngũ vào chiến trường miền Nam. Hòa bình lập lại, ông trở về quê hương, nhưng hậu quả của chất độc da cam khiến sức khỏe ngày càng suy kiệt.
Hiện đôi chân của người cựu binh năm nào đã bị liệt hoàn toàn, mọi sinh hoạt đều gắn với chiếc xe lăn. Sống một mình, ông Bính phụ thuộc vào sự chăm sóc của người thân. Ông Nguyễn Văn Bàn, anh trai ông Bính, nghẹn ngào chia sẻ: 3 năm nay em tôi nằm một chỗ, đau đớn triền miên. Gia đình chỉ biết cố gắng chăm sóc, chắt chiu từng đồng mua thuốc để em vơi bớt đau đớn.
Gia đình ông Vũ Thanh Hòa và ông Nguyễn Văn Bính chỉ là 2 trong hàng nghìn hoàn cảnh đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề của chất độc da cam trên địa bàn Quảng Ninh. Mỗi người một số phận, một nỗi đau riêng, nhưng đều phải đối mặt với bệnh tật, khó khăn kinh tế và những thiệt thòi kéo dài qua nhiều năm tháng. Vậy nên, việc chăm lo cho nạn nhân chất độc da cam luôn được Quảng Ninh xác định là nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc. Bằng nhiều chính sách, cùng sự chung tay của cộng đồng, những điểm tựa ngày càng được vun đắp để giúp các nạn nhân vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống.
Để không nạn nhân da cam nào bị bỏ lại phía sau
Hiện Quảng Ninh có gần 4.200 nạn nhân chất độc da cam/dioxin đang được hưởng trợ cấp thường xuyên từ ngân sách nhà nước. Trong đó có hơn 3.500 người trực tiếp tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, phần lớn đã ngoài 70 tuổi, cùng 659 người là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam.
Những năm qua, Quảng Ninh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với nạn nhân chất độc da cam. Bên cạnh việc thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách của Trung ương, tỉnh còn ban hành nhiều cơ chế hỗ trợ đặc thù, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các nạn nhân và gia đình. Giai đoạn 2021-2026, Quảng Ninh đã bố trí trên 100 tỷ đồng để thực hiện các chính sách an sinh dành cho nạn nhân chất độc da cam. Nguồn lực được sử dụng để thăm hỏi, tặng quà vào các dịp lễ, Tết, ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7); ngày Vì nạn nhân chất độc da cam (10/8); tổ chức điều dưỡng, phục hồi sức khỏe, hỗ trợ giải độc tố...
Cùng với đó, sự chung tay của cộng đồng đã tạo thêm điểm tựa vững chắc cho các nạn nhân. Trong giai đoạn 2021-2026, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh (nay là Hội Chữ thập đỏ Quảng Ninh) đã vận động các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các nhà hảo tâm ủng hộ hơn 23,6 tỷ đồng, cùng nhiều hiện vật. Từ nguồn lực xã hội hóa, 41 căn nhà đã được xây mới, sửa chữa; 141 nạn nhân đặc biệt khó khăn được hỗ trợ nuôi dưỡng thường xuyên; gần 1.500 lượt người được phục hồi chức năng, giải độc tố; hơn 1.100 thẻ BHYT được trao cho người trực tiếp chăm sóc nạn nhân; nhiều mô hình sinh kế, phương tiện sản xuất, sổ tiết kiệm cũng được trao tặng, tạo điều kiện để các gia đình từng bước ổn định cuộc sống.
Đáng chú ý, công tác hỗ trợ hiện nay đang chuyển mạnh từ trợ giúp trước mắt, sang tạo sinh kế bền vững. Nhiều gia đình được hỗ trợ vốn, phương tiện sản xuất, tạo việc làm và cải thiện thu nhập. Đến cuối năm 2025, Quảng Ninh không còn hộ nạn nhân chất độc da cam thuộc diện nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều.
Theo Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Quảng Ninh Phạm Ngọc Văn, Hội sẽ tiếp tục đa dạng hóa nguồn lực xã hội, phấn đấu mỗi năm tăng bình quân hơn 10% nguồn vận động; đồng thời chuyển mạnh từ hỗ trợ mang tính trợ cấp, sang hỗ trợ sinh kế lâu dài, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu nạn nhân, nhằm bảo đảm việc hỗ trợ đúng đối tượng, kịp thời, minh bạch và hiệu quả.
Đồng chí Vũ Quyết Tiến, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, khẳng định: Việc chăm lo người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học không chỉ là thực hiện chính sách đối với người có công, mà còn là trách nhiệm chính trị, đạo lý và nghĩa tình của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Ninh. Đồng chí đề nghị các cấp, ngành, địa phương, cùng Hội Chữ thập đỏ tỉnh tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong huy động nguồn lực xã hội; ưu tiên chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, hỗ trợ sinh kế, cải thiện điều kiện sống theo hướng bền vững, bảo đảm mọi nạn nhân chất độc da cam đều được quan tâm, chăm lo, không ai bị bỏ lại phía sau.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng hành trình xoa dịu nỗi đau da cam vẫn nối dài bằng trách nhiệm, nghĩa tình và sự chung sức của cộng đồng. Mỗi sự đồng hành hôm nay chính là điểm tựa giúp các nạn nhân vơi bớt nhọc nhằn, đứng vững trong cuộc sống; qua đó khắc sâu đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, viết tiếp câu chuyện về một Quảng Ninh giàu nghĩa tình và bản sắc.