Quảng Ninh là một trong 8 tỉnh khu vực Đồng bằng sông Hồng được Bộ NN&PTNT, Ngân hàng Thế giới (WB) lựa chọn là địa phương triển khai giai đoạn 2 chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Việc triển khai thực hiện chương trình là tín hiệu vui, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nước sinh hoạt, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn. Tuy nhiên, đến nay tại Quảng Ninh, chương trình này triển khai còn chậm. Dự báo, kế hoạch năm 2014 sẽ không hoàn thành.
Ông Nguyễn Việt Anh, Giám đốc Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn (Sở NN&PTNT) cho biết, theo kế hoạch năm 2014, mục tiêu đề ra đến cuối năm tỷ lệ số hộ dân nông thôn trên địa bàn tỉnh có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 75%; tỷ lệ số hộ dân nông thôn có chuồng trại hợp vệ sinh đạt 72%; tỷ lệ hộ nghèo nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 45%; 100% các trường học, trạm y tế có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh; xây mẫu và tuyên truyền, vận động nhân dân tại 6 xã vệ sinh toàn xã và các xã nông thôn xây dựng mới 1.550 nhà tiêu hợp vệ sinh. Số người dân được hưởng lợi từ các xã đạt vệ sinh toàn xã là 25.550 người. Tổng nhu cầu vốn đầu tư năm 2014 là 234,380 tỷ đồng; trong đó nguồn vốn ngân sách trung ương 9,910 tỷ đồng; nguồn vốn vay WB là 209,470 tỷ đồng; vốn nhân dân đóng góp 15 tỷ đồng. Cuối năm sẽ đưa vào sử dụng 4 công trình cấp nước tập trung, đó là: Công trình cấp nước tập trung tại xã Hồng Thái Tây (Đông Triều), công trình cấp nước tập trung tại xã Tân Bình (Đầm Hà), công trình cấp nước tập trung tại xã Hiệp Hoà (Quảng Yên) và công trình cấp nước tập trung tại xã Hải Lạng (Tiên Yên). Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có 2/4 công trình đang thi công, còn lại 2 công trình chưa có vốn mới chỉ hoàn thành bước đấu thầu thi công; các công trình như nhà tiêu, chuồng trại hợp vệ sinh... chưa triển khai thực hiện.
Công trình cấp nước tập trung tại xã Hồng Thái Tây (Đông Triều) với công suất thiết kế 2.320m3/ngày đêm có hệ thống mạng lưới đường ống cấp nước sinh hoạt theo quy chuẩn 02/2009/BYT cấp nước cho 14.900 nhân khẩu xã Hồng Thái Đông và Hồng Thái Tây, 4 trường học, 2 trung tâm cụm xã, 2 trạm y tế và một số cơ sở công cộng trên địa bàn. Công trình có tổng mức đầu tư 55,512 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn cấp từ WB là 33,3072 tỷ đồng (60%); nguồn kinh phí vay từ WB là 16,6536 tỷ đồng (30%); vốn đóng góp của người sử dụng nước là 5,5512 tỷ đồng (10%). Đến nay công trình đã triển khai được 65% khối lượng. Dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng vào tháng 11 năm nay. Công trình cấp nước tập trung tại xã Hải Lạng (Tiên Yên) có tổng mức đầu tư 30,667 tỷ đồng; trong đó nguồn vốn cấp từ WB là 18,4 tỷ đồng; nguồn vốn vay WB là 9,2 tỷ đồng; còn lại 3,067 tỷ đồng là kinh phí đóng góp của người sử dụng nước. Đến nay, công trình đã thi công được 30% khối lượng và dự kiến sẽ hoàn thành, đưa vào sử dụng vào tháng 12. Còn lại hai công trình mới chỉ dừng lại ở giai đoạn hoàn thành đấu thầu thi công đó là công trình cấp nước tập trung tại xã Hiệp Hoà (Quảng Yên) với tổng mức đầu tư là 36,183 tỷ đồng và công trình cấp nước tập trung xã Tân Bình (Đầm Hà), công suất thiết kế 700m3/ngày đêm, với tổng mức đầu tư 31,381 tỷ đồng.
Như vậy, đến thời điểm này tiến độ của Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là rất chậm, khó có thể hoàn thành kế hoạch năm 2014 với những mục tiêu đề ra.
Theo ông Nguyễn Việt Anh, Giám đốc Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn: Việc triển khai chương trình chậm có nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến nguyên nhân là trong khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Thế giới đã ký xong hiệp định tín dụng để hỗ trợ Việt Nam thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường thì tỉnh mới cho chủ trương, kế hoạch thực hiện, trong khi đó những tỉnh khác đã triển khai thực hiện sớm để đón trước dự án.
Cùng với đó, nguyên nhân về cơ chế tài chính của chương trình “giải ngân dựa trên kết quả” là phương thức giải ngân hoàn toàn mới chưa từng triển khai tại nước ta trong khi các văn bản hướng dẫn thực hiện lại không rõ ràng, nên quá trình triển khai gặp nhiều khó khăn; nguồn vốn tạm ứng của chương trình ít, quá trình làm thủ tục phân khai nguồn vốn chậm nên tiến độ triển khai chương trình theo đó càng chậm hơn. Các tiêu chí về vệ sinh môi trường của chương trình so với khả năng thực hiện của tỉnh là cao, do vậy cần được Ngân hàng Thế giới quan tâm xem xét phù hợp với thực tế của từng địa phương, đặc biệt với Quảng Ninh là tỉnh miền núi, tỷ lệ hộ gia đình có công trình nước và nhà tiêu hợp vệ sinh chênh lệch cao giữa nông thôn và thành thị. Vì vậy, để trong thời gian ngắn có thể thúc đẩy cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, thay đổi nhận thức của người dân tại khu vực nông thôn cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở và cần có chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Như vậy, đến thời điểm này để đẩy nhanh tiến độ chương trình, ngành chức năng đang tập trung đẩy nhanh tiến độ hai công trình cấp nước tập trung đã thi công. Còn lại hai công trình vẫn đang chờ nguồn kinh phí và chắc chắn sẽ không hoàn thành được trong năm nay. Để tạo điều kiện cho người dân nông thôn được tiếp cận sử dụng nguồn nước sạch, các địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân đăng ký đấu nối sử dụng nước và đóng góp 10% kinh phí xây dựng các công trình cấp nước.
Hữu Việt