Lễ hội không chỉ lưu giữ ký ức lịch sử, tri thức dân gian, mà còn tham gia định hình hình ảnh điểm đến, kéo dài mùa du lịch, kích thích chi tiêu của du khách. Hệ thống lễ tết theo chu kỳ năm đã tạo nên lịch sự kiện phong phú, gắn chặt với không gian sinh thái xã hội. Nhân dịp diễn ra hàng loạt lễ hội đầu năm, phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ninh đã có cuộc trò chuyện với TS. Lý Viết Trường (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội) về nội dung này.
- Hiện đang là mùa lễ hội đầu năm. Theo ông, lễ hội có ý nghĩa như thế nào trong việc phát triển du lịch cộng đồng?
+ Chúng ta hay gọi chung là lễ hội, nhưng nếu tách ra làm 2 phần sẽ là lễ tết và hội hè. Hệ thống lễ hội kết tinh những giá trị tín ngưỡng, tri thức dân gian và tập quán cộng đồng. Sự bùng nổ của các mô hình lễ hội văn hóa - du lịch thời gian gần đây là xu thế tất yếu khi các địa phương nhận thức rõ vai trò quảng bá hình ảnh và xây dựng thương hiệu văn hóa vùng miền thông qua lễ hội.
Lễ hội giúp kéo dài mùa du lịch, làm giảm tính mùa vụ vốn là một thách thức lâu dài của ngành du lịch. Ngoài ra, các sự kiện còn thúc đẩy nhu cầu du lịch trải nghiệm, khi du khách có xu hướng tìm kiếm hoạt động mang tính tham gia, tương tác và học hỏi. Lễ hội trở thành “cầu nối” giữa du khách và văn hóa bản địa và là công cụ quan trọng để xây dựng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng. Trong bối cảnh các điểm đến cạnh tranh mạnh về bản sắc, lễ hội trở thành phương tiện định vị hình ảnh và tạo lợi thế khác biệt, đặc biệt đối với những địa bàn có nền văn hóa bản địa phong phú.
- Câu chuyện này với Quảng Ninh có ý nghĩa như thế nào, thưa ông?
+ Quảng Ninh là nơi cộng cư lâu đời của cộng đồng các tộc người Kinh, Tày, Dao, Sán Dìu, Sán Chỉ... với hệ thống lễ tết - hội hè phong phú, còn được duy trì tương đối nguyên vẹn trong đời sống đương đại. Sự đa dạng tộc người không chỉ tạo nên bức tranh văn hóa phong phú, mà còn là nền tảng để Quảng Ninh xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm đặc thù.
Trong đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc, hệ thống lễ tết - hội hè truyền thống vẫn được duy trì, phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa tín ngưỡng nông nghiệp, chu kỳ mùa vụ và cấu trúc gia đình, dòng họ. Ví dụ lễ tết thì có: Tết Nguyên đán được tổ chức trong phạm vi gia đình và cộng đồng thôn bản; Tết Thanh minh diễn ra tại khu mộ của từng họ; Tết Đoan Ngọ (5/5 âm lịch) có ý nghĩa trừ sâu bệnh, cầu cho sức khỏe và mùa vụ ổn định...
Bên cạnh hệ thống Tết, người Dao có lễ kiêng gió, người Sán Chỉ có lễ cầu mùa đặc sắc phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa tín ngưỡng và chu trình nông nghiệp. Trong hệ thống hội hè, hội hát soóng cọ của người Sán Chỉ (16/3 âm lịch) có sự tham gia đông đảo của người dân trong vùng. Trọng tâm của hội nằm ở hoạt động hát đối giao duyên cùng chợ phiên, biểu diễn kèn lá và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Do đó, lễ tết - hội hè ngày càng được coi là “tài nguyên văn hóa sống”. Các nghi lễ vốn trong phạm vi gia đình - dòng họ được điều chỉnh mềm mại hơn, phù hợp với hoạt động tham quan của du khách, nhưng vẫn giữ được tính thiêng. Mỗi mùa lễ hội trở thành “điểm nhấn” thu hút khách, tạo cơ hội nâng cao doanh thu dịch vụ, thúc đẩy tiêu thụ nông sản - ẩm thực địa phương và quan trọng hơn là củng cố ý thức bảo tồn văn hóa trong cộng đồng. Trong những năm gần đây, cùng với xu hướng du lịch văn hóa - du lịch cộng đồng, Quảng Ninh với hơn 100 lễ hội đang trở thành điểm nhấn thu hút du khách nhờ tính độc đáo, chiều sâu văn hóa và sự gắn kết với không gian sinh thái, xã hội đặc thù.
- Theo ông, lễ tết và hội hè ở Quảng Ninh có những đặc điểm gì đáng chú ý?
+ Lễ tết - hội hè mang lại sức hút đặc biệt đối với du khách nhờ tính chu kỳ, tính biểu tượng và yếu tố trải nghiệm độc đáo. Mỗi dịp lễ tết hay hội hè đều gắn với những thời điểm đặc biệt trong năm, tạo nên “mùa du lịch văn hóa” với những dấu mốc rõ ràng. Ví dụ, Tết Nguyên đán, Tết Thanh minh vào mùa xuân, Lễ kiêng gió (4/4 âm lịch), Tết Đoan ngọ vào mùa hè, Tết Cơm mới vào mùa thu. Điều này giúp xây dựng lịch sự kiện theo mùa, thuận lợi cho công tác truyền thông và tổ chức tour tuyến.
Mỗi lễ hội mang trong mình một “thông điệp bản sắc”. Ví dụ, người Tày với những câu then văn nghệ vừa cổ kính vừa hiện đại, người Dao với không gian lễ kiêng gió giàu sắc thái tâm linh, người Sán Chỉ với những làn điệu soóng cọ mềm mại và trữ tình. Những đặc trưng này tạo điều kiện cho du khách có thể quan sát và tham dự vào các thực hành văn hóa sống của cộng đồng. Sự hiện diện của du khách trong các lễ hội không làm phá vỡ không gian văn hóa truyền thống mà ngược lại, đang trở thành động lực để cộng đồng chủ động trình diễn, diễn giải và giới thiệu văn hóa của chính mình. Như vậy, lễ tết - hội hè đóng vai trò “định danh” điểm đến, giúp tạo dựng một hình ảnh riêng biệt mà các địa phương khác khó có thể sao chép.
- Những giá trị đó có ý nghĩa như thế nào với việc phát triển du lịch, thưa ông?
+ Lễ tết - hội hè của người dân địa phương là những thực hành văn hóa sống, còn được duy trì đều đặn trong đời sống hiện tại. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng bởi du khách ngày nay không chỉ muốn “xem” văn hóa, mà còn muốn “sống trong văn hóa”, muốn được tham gia, trải nghiệm và tương tác trực tiếp.
Khả năng chuyển hóa di sản lễ hội thành sản phẩm du lịch thể hiện trước hết từ chính các nghi lễ, phong tục và diễn xướng là nguồn nội dung cho sản phẩm trải nghiệm. Bên cạnh đó, các giá trị di sản còn có thể được chuyển hóa thành các sản phẩm “bổ trợ” như: Tour tìm hiểu ẩm thực lễ tết, workshop làm bánh truyền thống, lớp học hát then và soóng cọ, trải nghiệm làm thầy cúng (phiên bản diễn giải), hay các tuyến trekking kết hợp tham quan làng bản và nghe kể chuyện dân gian.
Mỗi lễ hội là một câu chuyện gắn với lịch sử, tín ngưỡng và đời sống sinh hoạt của cộng đồng. Khi câu chuyện được kể một cách hấp dẫn, chân thực và tôn trọng văn hóa nguyên bản, sản phẩm du lịch sẽ trở nên giàu cảm xúc, giúp du khách cảm thấy họ không chỉ đi tham quan mà còn được đồng hành với đời sống văn hóa của người dân địa phương.
- Khi khai thác tốt lễ hội để làm du lịch thì sẽ tạo ra những giá trị như thế nào đối với cộng đồng địa phương?
+ Không chỉ tạo sức hút du lịch, lễ tết - hội hè còn mang lại những giá trị kinh tế - xã hội rõ rệt đối với cộng đồng. Về phương diện kinh tế, lễ hội là cơ hội để phát triển các dịch vụ bổ trợ, kéo theo doanh thu của các hộ dân kinh doanh dịch vụ. Đối với người dân, mùa lễ hội còn là dịp tiêu thụ sản vật địa phương, mang lại nguồn thu đáng kể.
Lễ hội cũng có tác động xã hội tích cực làm các thế hệ trong gia đình và cộng đồng được gắn kết lại với nhau, nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết, học hỏi và tương tác tạo ra môi trường giao thoa văn hóa lành mạnh. Khi trở thành chủ thể dẫn dắt lễ hội, người dân có cơ hội học cách tổ chức sự kiện, quản lý du khách, vận hành dịch vụ và phát triển sản phẩm văn hóa - du lịch. Điều này tạo nền tảng cho mô hình du lịch cộng đồng. Tác động lâu dài nhất có lẽ là việc lễ hội giúp giữ người trẻ ở lại quê hương, giữ chân lực lượng kế cận để tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Tuy vậy, quá trình khai thác vẫn tồn tại những sản phẩm còn manh mún, thiếu đội ngũ diễn giải văn hóa chuyên nghiệp, liên kết tour tuyến còn lỏng lẻo, hạ tầng chưa đồng đều và chưa hình thành được một thương hiệu lễ hội thống nhất.
- Ông có những gợi ý gì về các giải pháp phát huy lễ hội phục vụ cho phát triển du lịch?
+ Phát huy giá trị lễ tết - hội hè trong phát triển du lịch trải nghiệm cần được đặt trong một tầm nhìn dài hạn, kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế. Cần chuẩn hóa mô hình tổ chức lễ hội gắn với du lịch, xây dựng bộ tiêu chí tổ chức lễ hội bảo đảm các nguyên tắc an toàn - văn hóa - thân thiện với du khách. Việc phân định phần lễ thiêng và phần hội công cộng phải được thực hiện một cách linh hoạt, nhằm giữ gìn tính nguyên bản của nghi lễ mà không tách rời cấu trúc truyền thống. Đồng thời, cần bố trí đội ngũ giúp du khách tiếp cận lễ hội đúng cách, không xâm phạm không gian thiêng nhưng vẫn có cơ hội trải nghiệm văn hóa bản địa.
Cùng với đó là phát triển sản phẩm du lịch trải nghiệm theo mùa, có thể xây dựng các tour chuyên đề, như: Tết người Tày và tìm hiểu không gian then; Lễ kiêng gió khám phá tín ngưỡng và đời sống người Dao Thanh Phán; Lễ hội hát soóng cọ nghe hát giao duyên và hòa mình vào sinh hoạt văn hóa của người Sán Chỉ; Tour cầu mùa trải nghiệm lao động sản xuất của cư dân vùng cao... Các sản phẩm này cần được thiết kế dưới dạng chuỗi hoạt động, bao gồm trekking, chợ phiên, tham quan bản, trải nghiệm ẩm thực, diễn xướng và tham gia lao động sản xuất, qua đó tạo ra giá trị trải nghiệm trọn vẹn và khác biệt.
Đồng thời, phát triển đội ngũ “hướng dẫn viên bản địa” và “người kể chuyện di sản”. Các hộ làm du lịch cộng đồng (homestay) cần được hỗ trợ xây dựng “câu chuyện bản sắc” riêng cho sản phẩm của mình, tạo dấu ấn độc đáo giữa các thôn bản và giúp nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.
Trong tương lai, cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn về tác động văn hóa - xã hội của quá trình “du lịch hóa” lễ tết - hội hè, nhằm đảm bảo rằng sự phát triển du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế trước mắt mà còn góp phần củng cố bản sắc, tăng cường nội lực cộng đồng và xây dựng điểm đến văn hóa bền vững.
- Cám ơn ông về cuộc trò chuyện này!