Con trai người thợ điện

Ông Vũ Thanh Bình, công nhân Công ty CP Than Núi Béo - Vinacomin, trú tại tổ 3, khu 2, phường Trần Hưng Đạo, TP Hạ Long, nhớ lại:

“Sau khi tốt nghiệp PTTH, tháng 11-1977, Phạm Quang Tuệ và tôi trong số hai trăm thanh niên Quảng Ninh háo hức được làm lính hải quân, huấn luyện tân binh ở Đại Yên. Đầu năm 1978, chúng tôi về Hải Phòng, và khoảng ba tháng sau nhận lệnh di chuyển vào Cam Ranh, Khánh Hoà. Ở đây cũng vừa tròn ba tháng, hai mươi chiến sĩ trong đó có tôi và Tuệ lên tàu ra đảo Phú Quốc huấn luyện tiếp”.

Di ảnh liệt sĩ Phạm Quang Tuệ. (ảnh do gia đình cung cấp)
Di ảnh liệt sĩ Phạm Quang Tuệ. (ảnh do gia đình cung cấp)

Tới đây người viết bài này thấy cần mở ngoặc trước đoạn hồi tưởng tiếp theo của ông Bình: Ở thời điểm ấy, bọn phản động quái thai Pôn Pốt trong khi thực thi chính sách tàn bạo diệt chủng chính dân tộc mình, đồng thời xua quân xâm lược Việt Nam, giết hại dã man đồng bào của chúng ta dọc các tỉnh có chung biên giới với Campuchia. Thể theo yêu cầu của lực lượng cứu nguy dân tộc Campuchia, quân tình nguyện Việt Nam sang tiêu diệt bọn đồ tể Pôn Pốt, cứu nhân dân xứ Ăng Co.

“Tháng 7-1978 - ông Thanh Bình kể tiếp - lính thuỷ chúng tôi phối hợp với bộ binh Quân đoàn 4 sau khi đánh bật quân Pôn Pốt ra khỏi Hà Tiên đã vượt biên giới sang Tà Lơn, giải phóng liền hai cảng chiến lược Xihanucvin và Rem. Sau hai chiến thắng quan trọng đó, hải quân ta trở về căn cứ ở Phú Quốc để hai ngày sau lại giúp lực lượng cách mạng chân chính của bạn giải phóng thị xã Cô Công. Ngày cuối cùng của năm Mậu Ngọ 1978, những người lính tình nguyện vẫn tổ chức vui Tết, ăn “kẹo Bác Tôn”, hút “thuốc lá Bác Tôn”. Tôi với Tuệ ngồi bên nhau như mọi lần. Hai chúng tôi có nhiều cảnh tương đồng: Cùng dân “xứ Hòn”, cùng sinh năm 1959, cùng nhập ngũ một ngày, cùng lính trinh sát…

Tôi phải thừa nhận Tuệ có tài trinh sát, trí nhớ rất tốt kèm theo phán đoán và khả năng phân tích tình hình chính xác quân số, trang bị vũ khí, khí tài quân sự, cách bố phòng, quy luật đổi gác, đi tuần… của địch; nhiều lần anh được cấp trên khen thưởng. Tuệ còn có “tài lẻ” - hát rất hay và hay hát bài “Chiều Hòn Gai”. Tôi không rõ ca khúc này do nhạc sĩ nào sáng tác, chỉ nhớ lời hát có những câu: “Hạ Long nhấp nhô ngàn đảo đá. Cánh buồm no gió dệt mây nước trong xanh. Yêu lắm Hòn Gai quê mình”. Trong đêm giao thừa da diết nhớ quê hương, Tuệ lại hát “Chiều Hòn Gai” với chất giọng tình cảm, sâu lắng, lúc vui rộn rã, lúc phảng phất nỗi buồn. Hạ câu hát cuối cùng, Tuệ đột nhiên quay sang tôi, quả quyết: “Sau này rời quân ngũ trở về phố Nhà Thờ Cột 5, mình nhất định theo nghề thợ điện như bố mẹ!”.

Đau xót thay, ước mơ rất đỗi bình dị ấy của Tuệ bạn tôi đã không có cơ may thực hiện. Ngày 13-4-1979, khoảng năm giờ chiều, số quân chừng một đại đội của ta chia nhiều mũi men theo bờ sông ven rừng tiến đánh quân Pôn Pốt trong thị trấn Tam Dung. Tôi và Tuệ ở tốp thứ nhất. Và không có ngoại lệ, Tuệ vẫn đi đầu tốp. Tôi sử dụng cối cá nhân M79. Tuệ nắm khẩu AK. Bỗng từ trong lùm cây lúp xúp phía trước cách chúng tôi khoảng hai chục mét, một phát súng đại liên nổ đanh gọn. Tuệ khựng lại! Chúng tôi xả đạn vào bọn phục kích… Tôi kéo Tuệ ngả vào mình. Mặc dù Tuệ đội mũ sắt (loại mũ của lính Sài Gòn trước năm 1975) song viên đạn thù vẫn xuyên giữa vùng trán rộng mở của anh… Chúng tôi cáng thi hài Tuệ về Cô Công; sau ít ngày đưa tiếp về Phú Quốc”.

Thật bất ngờ, người viết bài này đã được gặp lại “cố nhân” sau đúng 35 năm. Dạo ấy, cuối tháng 2-1979, tôi khi đó là Trợ lý Tuyên huấn Công an Nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), đi cùng Khổng Tiến Dũng - chiến sĩ Đồn 209 Pò Hèn - Đơn vị Anh hùng LLVTND, lên nói chuyện bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, trên trận địa của Tiểu đoàn tự vệ Sở Quản lý và Phân phối điện khu vực 5 (tiền thân của Công ty Điện lực Quảng Ninh ngày nay). Hồi đó tự vệ ngành Điện là điển hình tiên tiến trong “Ba thứ quân” của tỉnh, bề dày truyền thống hào hùng nên danh tiếng “nổi như cồn”. Tiểu đoàn được trang bị hàng chục súng 12,7 ly và 37 ly, hàng trăm súng trường và tiểu liên. Đồng chí Giám đốc sở Tạ Tô Thục kiêm Tiểu đoàn trưởng. Đồng chí Phạm Quang Thuỳ, đảng viên, cựu chiến binh - Phó Tiểu đoàn trưởng (thường trực). Tuy chưa đầy nửa ngày giao lưu, những người vừa “thắp sáng” vừa cầm súng đã để lại trong chúng tôi những ấn tượng đẹp đẽ về phẩm chất người thợ điện. Và không phải ai khác, chính liệt sĩ Phạm Quang Tuệ là con đầu lòng của Phó Tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Thuỳ.

Trong ngôi nhà thoáng mát ở tổ 6, khu 9, phường Hồng Hải, TP Hạ Long, ngày đầu tháng tư vừa qua, “Anh Bộ đội Cụ Hồ” từ thời kỳ chống Pháp - Phạm Quang Thuỳ thân mật tiếp tôi, song yêu cầu không viết những gì “gọi là làm được” của bản thân. Tôi gặng mãi cũng chỉ được chi tiết: Tháng 1-1991, gia đình đưa hài cốt Phạm Quang Tuệ sau 12 năm anh dũng hy sinh từ Nghĩa trang liệt sĩ Dương Tơ, Phú Quốc, Kiên Giang về Nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu. Đón hài cốt người con cả về hôm trước, ngay sáng hôm sau, gia đình tiễn đưa người con út Phạm Quang Bách lên đường nhập ngũ, làm công tác bảo mật ở Tỉnh Đội Quảng Ninh. Hoàn thành nghĩa vụ, Quang Bách trở về theo ngành Điện, thực hiện ước mơ của chính người anh. Tôi “phôn” hỏi Giám đốc Điện lực TP Hạ Long - Nguyễn Văn Minh thì được ông nhận xét: “Anh Phạm Quang Bách là đảng viên gương mẫu; tổ tưởng quản lý điện phường Hồng Hải. Tổ chỉ có mười người nhưng quản lý rất tốt địa bàn sáu nghìn hộ dùng điện”.

Chia tay lão cựu chiến binh Phạm Quang Thuỳ đã cận kề tuổi tám mươi, trong tôi trào dâng niềm cảm phục, cùng lúc âm vang trầm hùng  thơ Tố Hữu: “Lớp cha trước, lớp con sau/ đã thành đồng chí chung câu quân hành”. Và mường tượng liệt sĩ Phạm Quang Tuệ, dù kẻ thù không để anh thực hiện mơ ước trở thành người thợ điện nhưng trái tim quả cảm hy sinh trong cuộc chiến khốc liệt giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả đã thực sự làm ra Ánh sáng - Ánh sáng trắng trong “mãi mãi tuổi hai mươi” - Ánh sáng đỏ thắm trải rộng mỗi cuối “Chiều Hòn Gai” hoàng hôn ơn nhớ…

Phùng Ngọc Dũng

Cùng chuyên mục