Con đường từ thị trấn Bình Liêu tới điểm trường Cao Sơn, thuộc Trường Tiểu học Hoành Mô 1 (huyện Bình Liêu) dài 22 cây số, nhưng đi xe máy phải mất gần 2 tiếng mới tới nơi. Trước khi xuất phát, thầy giáo Trần Văn Thuý, Tổng phụ trách Đội của trường nói với chúng tôi một cách khá hình ảnh: “Đây có khi là một trong những bản “xương xẩu” nhất của huyện, chưa có điện lưới, đường cũng chưa được trải bê tông đến tận nơi, nên các giáo viên phải băng qua suối, đi men theo đường rừng”. Chỉ mới nghe vậy, chúng tôi đã hình dung được phần nào sự gian nan, vất vả trong việc “cõng chữ lên non” của những người thầy vùng cao nơi này.
4 thầy, 22 trò và 5 lớp
7 rưỡi sáng một ngày cuối tháng 8, chúng tôi bắt đầu xuất phát. Chuẩn bị sẵn tâm lý, tôi đã đi đôi dép tổ ong, quần ống rộng để có thể xắn được khi phải lội qua suối. Tôi còn cẩn thận mang thêm một chai nước lọc để uống, tránh mất sức khi phải đi bộ men theo đường rừng. Đúng như những gì thầy Thuý nói, đường đến điểm trường Cao Sơn thật vô cùng gian nan, vất vả. Trong quãng đường 22 cây số đó, chúng tôi chỉ có thể chạy xe máy được 18 cây số, còn lại 4 cây số phải xuống dắt bộ xe máy. Những chỗ phải dắt xe, chúng tôi chia nhau, người dắt, người đẩy. Một số đoạn đường tuy cũng chẳng dễ “nhằn”, nhưng với kinh nghiệm nhiều năm dạy ở vùng cao, thầy Thuý vẫn cố chạy xe. Tôi ngồi đằng sau, nhiều khi cũng thót tim. “Con ngựa sắt” của thầy cứ chồm lên, hụp xuống liên tục mỗi khi đi qua những đoạn đất đá gồ ghề, đầy ổ trâu, ổ gà.
Đi cùng chúng tôi còn có chị Hoàng Thị Ngọc, Hiệu phó Trường Tiểu học Hoành Mô 1. Vốn quen đường nên chị tự lái chứ không cần nhờ người lái giúp. Chị bảo: “So với mấy năm trước thì bây giờ đường dễ đi hơn nhiều lắm rồi. Hồi trước, đường chưa được bê tông hoá nhiều, các thầy, cô còn phải đi bộ xa hơn. Vì thế, có những thầy, cô cả tháng trời mới về nhà một lần”. Thời tiết cuối tháng 8 tuy đã dần chuyển sang thu, song đến tầm 9 giờ sáng đã oi bức vô cùng. Chúng tôi ai nấy đều vã mồ hôi như tắm. Với riêng tôi, chắc do không quen đi đường rừng, nên quãng đường đi bộ 4 cây số khiến hai chân của tôi như muốn khụy xuống.
Sau 2 giờ đi vất vả, cuối cùng chúng tôi cũng tới được điểm trường Cao Sơn. Nơi này chỉ có vỏn vẹn 4 phòng học; trong đó, 2 phòng được xây từ năm 1997, còn lại được xây mới từ năm 2011. Điểm trường còn bố trí 2 phòng ngủ cho giáo viên và khu vệ sinh, bếp. Phòng học tuy không lớn nhưng trông rộng thênh thang vì mỗi lớp chỉ có 4-5 học sinh ngồi lọt thỏm. Thầy giáo Giáp Hải Chiều, 52 tuổi, cao tuổi nhất ở đây, nhà ở xã Lục Hồn (huyện Bình Liêu), cho biết: “Năm học này, điểm trường chỉ có 4 thầy giáo, 22 học sinh, chia thành 5 lớp từ khối lớp 1 đến lớp 5. Mỗi lớp chỉ có 4-5 học sinh…”. Qua lời kể của thầy Chiều, chúng tôi được biết, có những năm học, điểm trường Cao Sơn chỉ có hơn chục học sinh ra lớp, nhưng vì mong muốn đem con chữ tới con em đồng bào vùng sâu, vùng xa nên điểm trường vẫn được duy trì.
Nhiều cái khó
Giờ ra chơi, thầy giáo Tô Xuân Hảo, 28 tuổi, nhà tại thị trấn Bình Liêu, ngồi xuống bên hè nhìn lũ trẻ chơi đùa. Thầy Hảo tâm sự: “Mình lên Cao Sơn từ năm 2010. Ở đây chỉ có 4 thầy giáo nhưng có tới 5 lớp, nên trường bố trí mình dạy cả lớp 2 và lớp 3. Điều này làm mình rất trăn trở”. Theo thầy, với một điểm trường vùng cao như Cao Sơn, việc dạy 2 lớp là hơi quá sức với giáo viên. Bởi lẽ, nếu phân chia 2 lớp dạy theo 2 buổi sáng, chiều thì sẽ khó khăn cho việc soạn bài của thầy giáo, vì không có điện nên không thể soạn bài vào buổi tối, các thầy đều phải tranh thủ soạn bài những lúc nghỉ trưa. Trong khi đó, nếu gộp lớp 2 và lớp 3 vào dạy cùng một buổi thì chất lượng học tập sẽ không cao. Phải dạy cùng một lúc 2 chương trình thì thầy cũng khó dạy, mà trò cũng khó tiếp thu. Đem trăn trở này hỏi chị Hoàng Thị Ngọc, chị cho hay: “Trường cũng đang rất muốn thuê giáo viên hợp đồng để bổ sung cho điểm trường Cao Sơn, nhưng hiện vẫn chưa thuê được. Trước mắt, trường đành phải bố trí như vậy”.
Còn với thầy Giáp Hải Chiều thì lại có những trăn trở khác: “Đường sá đi lại khó khăn nên một tuần chúng tôi mới về nhà một lần. Có những hôm trời mưa bão, lũ thì anh em đều phải ở lại. Việc bị ngã xe, hỏng lốp, rách quần áo… là chuyện hết sức bình thường mỗi khi đi, về”. Cách đây 33 năm, thầy Chiều đã vào công tác tại điểm Cao Sơn trong 4 năm liền. Khi đó, nơi đây chỉ có 2 lớp, với 5-6 học sinh và vô vàn khó khăn. Nghĩ lại 4 năm đó, thầy Chiều vẫn còn nhớ như in những vất vả, gian nan. Tới năm 2013, thầy Chiều được Phòng GD-ĐT huyện điều động về điểm trường này khi tuổi đã cao, sức đã kém. Tôi thầm nghĩ, chắc chỉ có tình yêu nghề mới có thể khiến thầy tiếp tục gắn bó với nơi đây…
Còn rất nhiều khó khăn nữa mà chúng tôi chẳng thể kể hết trong một bài viết. Rời ngôi trường khi nắng đã dần tắt, trong mỗi chúng tôi vẫn còn hiện rõ hình ảnh những người thầy yêu nghề và tiếng nô đùa lúc ra chơi của các em học sinh vùng cao. Hy vọng, những khó khăn của Cao Sơn sẽ sớm được tháo gỡ, để con chữ đến với các em học sinh nơi đây vơi bớt đi sự nhọc nhằn.
Lan Anh