Con tôm nuôi đã bén rễ trên đất Quảng Ninh từ nhiều năm và đang là đối tượng nuôi chủ lực của ngành thuỷ sản. Quá trình phát triển ngành tôm ghi nhận từ tự phát, đơn giản, phụ thuộc vào tự nhiên… đang từng bước tiến đến nuôi công nghiệp và nuôi công nghệ cao.
Xã Hải Lạng đang là trọng điểm nuôi tôm của khu vực miền Đông của Quảng Ninh. Với khoảng 1.500ha đất dành để nuôi tôm, hiện hơn 400 hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trên địa bàn xã đang triển khai nuôi tôm ổn định.
Bắt đầu từ những mô hình nuôi tự phát, quảng canh, bán thâm canh, thâm canh; từ công nghệ ao đất, ao tròn lót bạt, ao bê tông, ao ngoài trời, đến nay khoảng 200 hộ nuôi đã ứng dụng công nghệ nuôi tôm thâm canh, bao gồm khoảng 60 cơ sở nuôi công nghệ cao với gần 300 ao nuôi, với diện tích hơn 20ha. 6 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng tôm nuôi của Hải Lạng đạt trên 2.000 tấn, với giá bán trung bình trên 200.000 đồng/kg, giá trị con tôm nuôi của toàn xã đạt khoảng 400 tỷ đồng.
Anh Lý Văn Thành là một trong số những hạt nhân nuôi tôm của xã Hải Lạng. Với 4ha đất đầm sản xuất, anh Thành đầu tư 14 ao nuôi. Khác với những ao nuôi lớn, ngoài trời như trước đây, hiện mỗi ao nuôi tôm của anh Thành chỉ khoảng 500m2, trên có mái che, bao bọc xung quanh là thiết kế nhà màng, trong ao sử dụng máy tạo oxy và các thiết bị phục vụ quản lý môi trường nuôi; các hệ thống hỗ trợ ao nuôi là cấp, thoát nước riêng biệt và hệ thống ao lắng, xử lý nước trước khi đưa ra môi trường. Theo anh Thành, công nghệ nuôi tôm hiện đại đã làm hạn chế những tác động bất lợi và thất thường của thời tiết, vốn là những yếu tố có thể làm thay đổi độ mặn, độ pH và độ kiềm của môi trường nuôi, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của con tôm. Đó là lý do khả năng thành công của những mô hình nuôi tôm công nghệ cao là rất lớn.
Với gần 8ha sản xuất, Hợp tác xã Nuôi tôm công nghệ cao Cẩm Phả đã thiết kế 12 ao nuôi trong nhà bạt, gồm 2 ao diện tích 200m²/ao, 2 ao diện tích 400m²/ao và 8 ao diện tích 1.000m²/ao, phần còn lại là khu xử lý nước và các công trình phụ trợ. Công nghệ nuôi tôm của hợp tác xã là nuôi tôm 3 giai đoạn; quy trình nuôi khép kín, từ khâu ươm giống đến khi tôm đạt kích cỡ thương phẩm (khoảng 30 con/kg). Toàn bộ quá trình sản xuất được số hóa, kết hợp với hệ thống xử lý nước cấp và nước thải đồng bộ.
Anh Đặng Bá Mạnh, Giám đốc Hợp tác xã Nuôi tôm công nghệ cao Cẩm Phả, cho biết: Chi phí đầu tư cho nuôi tôm công nghệ cao rất lớn, nhưng bù lại là khắc phục được những nhược điểm của cách nuôi truyền thống, đó là việc kiểm soát chặt chẽ các yếu tố môi trường, hạn chế tối đa rủi ro dịch bệnh, đồng nghĩa mô hình nuôi được đảm bảo về mức độ thành công.
Hiện toàn tỉnh có trên 7.500ha nuôi tôm công nghiệp, công nghệ cao với 2.250 cơ sở nuôi. Mức độ công nghệ cao của một số ao nuôi đã đạt ở việc sử dụng công nghệ vi sinh để xử lý chất thải hữu cơ trong ao nuôi, chuyển hóa thành nguồn thức ăn giàu protein cho tôm; ứng dụng công nghệ nano bạc để xử lý chất lượng nước cho phép xử lý hiệu quả vi rút, vi khuẩn và nấm trong môi trường nước; thí điểm sử dụng thảo mộc để bồi bổ, tăng sức đề kháng cho vật nuôi. Sử dụng vi sinh xử lý chất thải trong ao nuôi, tự động cho ăn theo cảm biến, phần mềm AI cảnh báo môi trường; triển khai mô hình nuôi tuần hoàn khép kín (RAS) - công nghệ hiện đại cho phép kiểm soát môi trường ao nuôi thông qua cảm biến kết nối Internet (IoT)…
Theo tính toán của những người nuôi tôm có kinh nghiệm, nếu như mô hình nuôi tôm truyền thống ngoài trời chỉ đạt 1-2 vụ/năm, sản lượng mỗi vụ đạt khoảng 10 tấn/ha, thì mô hình nuôi công nghệ cao dường như không có tính mùa vụ, thay vào đó có thể nuôi quanh năm với hệ số quay vòng đạt 7-9 vụ/năm, sản lượng mỗi vụ đạt trên 30 tấn/ha. Thực tế thống kê năm 2025 của tỉnh, sản lượng tôm nuôi từ hơn 7.500ha nuôi công nghiệp là trên 23.000 tấn. Năm 2026, Quảng Ninh phấn đấu đạt 30.000 tấn. Tính đến hết tháng 6, tổng sản lượng tôm nuôi của Quảng Ninh là trên 18.000 tấn, con số được cho là rất đáng khích lệ đến từ những mô hình nuôi tôm công nghệ cao.