Đại học Việt Nam đứng ở đâu?

Ngày 5-1, khởi động tuần lễ làm việc đầu tiên trong năm 2008 của ngành giáo dục (GD), hơn 340 đại biểu từ các trường ĐH, CĐ trên toàn quốc cùng lãnh đạo 18 bộ ngành đã có mặt tại Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM để bàn về chất lượng giáo dục đại học, thông qua Hội nghị toàn quốc về chất lượng giáo dục đại học lần thứ nhất. Dù không còn là chuyện lạ, nhưng thông tin được đưa ra tại hội nghị vẫn khiến nhiều người phải… giật mình!

Nguy cơ tiềm ẩn của hệ thống giáo dục đại học

Không nói ra nhưng… ai cũng biết, ĐH Việt Nam trong 1 thập kỷ qua đang gánh trên vai búa rìu dư luận về những yếu kém: từ cơ sở vật chất thiếu, đội ngũ thầy cô yếu, chất lượng sản phẩm đào tạo kém.

Tại Hội nghị toàn quốc về chất lượng GDĐH lần thứ nhất này, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long đã nhìn nhận lại chặng đường 10 năm qua của GDĐH để rồi thừa nhận nguy cơ tiềm ẩn của cả hệ thống GDĐH, khi hệ thống GDĐH của nước ta hiện nay vẫn chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chưa thực sự gắn với nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực có trình độ cao của các ngành, địa phương và cả nước.

Theo GS Long, kể cả GDĐH tinh hoa cũng chưa thực sự được chú trọng, chưa sáng tạo ra những tri thức mới…

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng GDĐH không cao, trong đó có những nguyên nhân của những nguyên nhân mà các hội thảo, hội nghị về GDĐH trước đó đã bàn đến. Nhưng tại hội nghị lần này, một vấn đề khiến các đại biểu bâng khuâng khi nhìn thấy hậu quả của 10 năm qua từ thành quả nghiên cứu khoa học từ hai ĐH đầu tàu.

Nghiên cứu khoa học để có công trình đăng trên các tạp chí quốc tế nổi tiếng là lẽ sống và áp lực đè nặng lên cuộc sống của mọi giảng viên ĐH. Bởi tính khai phá trong nghiên cứu khoa học của người thầy quyết định chất lượng đào tạo sinh viên và sự thành đạt của họ sau này. Nhưng theo “Báo cáo phát triển thế giới” của WB, trong năm 2006, hai trung tâm khoa học lớn của cả nước là ĐH Quốc gia Hà Nội và ĐH Bách khoa Hà Nội có 34 công trình khoa học được công bố và có tên trong danh sách ISI (Viện Thông tin Khoa học - Mỹ), trong khi các giáo sư và sinh viên của ĐH Quốc gia Seoul (Hàn Quốc) có 4.556 ấn phẩm khoa học, ĐH Bắc Kinh (Trung Quốc) cũng có gần 3.000. Cũng theo báo cáo này, năm 2006, ở Trung Quốc có đến 40.000 ứng dụng sáng chế tại Trung Quốc, nhưng tại Việt Nam chỉ có… 2!

ĐH Việt Nam đuổi kịp Thái Lan về công bố quốc tế: Bao giờ? 

Ông Phạm Duy Hiển - Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia cho biết, theo đánh giá của Times Higher Education (Anh) về xếp hạng các trường ĐH trên thế giới, ĐH Chulalongkorn nổi tiếng của Thái Lan, dù đứng thứ 161 trong top 200 ĐH trên thế giới nhưng chỉ được 0 điểm về nghiên cứu khoa học. Và mặc dù vậy, nhưng đây lại là “một không gian rộng lớn” với nhiều cung bậc khác nhau cho khối các nước kém phát triển. Số bài báo quốc tế của Chulalongkorn, cho dù rất nhỏ nhoi so với các ĐH tiên tiến, cũng đủ làm nên thương hiệu, khiến cho các học giả phải nhìn nhận chất lượng của họ. Và, theo ông Phạm Duy Hiển, trong không gian của các nước kém phát triển đó, khoảng cách giữa họ và Việt Nam lại càng rất lớn.

Đại học Việt Nam đứng ở đâu? ảnh 1

Các đại biểu đang thảo luận bên ngoài hội nghị.

Thử nhìn vào bức tranh tăng trưởng từ các công bố quốc tế dùng nguồn nội lực của ĐH Chulalongkorn so với hai ĐH Quốc gia (ĐH Quốc gia Hà Nội và ĐH Quốc gia TPHCM) của ta trong 10 năm qua.

Số bài báo của ĐH Chulalongkorn tăng đều theo cấp số nhân, khoảng 25% hàng năm, sau hơn 3 năm lại tăng gấp đôi. Tăng nhanh và ổn định là sự biểu hiện về một cộng đồng đầy nội lực, “tự phát triển” nhờ có sự gắn bó hữu cơ trong mục tiêu chung. Nó hoàn toàn tương phản với hai ĐH Quốc gia Việt Nam, nơi mà nghiên cứu khoa học tầm quốc tế là hoạt động còn mang tính “được chăng hay chớ” của một số người, và nó không phải là mối quan tâm của cộng đồng. Hậu quả là sau 10 năm, số lượng công trình của 2 trường ĐH Quốc gia Việt Nam vẫn giậm chân tại chỗ.

Năm 2006, ĐH Chulalongkorn công bố 332 bài làm ngay trên đất Thái, trong khi mỗi ĐH hàng đầu của ta chỉ có 5 đến 7 bài, mà phần lớn là về… toán và lý thuyết!

Theo nhiều đại biểu, chúng ta không thể đem GDĐH của các nước ra so sánh với GDĐH trong nước để làm thế cạnh tranh. Nhưng cứ theo đà phát triển này thì biết bao giờ chúng ta mới rút ngắn được khoảng cách giữa ĐH Việt Nam so với các nước trong khu vực? Hàng năm, cứ nhìn hàng ngàn sinh viên trong nước ra nước ngoài tìm kiếm cơ hội học tập một nền GDĐH có chất lượng cao, cả xã hội lại phải sốt ruột.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân
Nếu không nâng cao chất lượng, có khả năng các trường không tồn tại

Nguyên nhân chất lượng GD chưa đạt yêu cầu vì chúng ta chưa coi quản lý chất lượng GD là mục tiêu cao nhất. Chất lượng phải phù hợp với nhu cầu nhưng bao nhiêu năm nay, chúng ta không đòi hỏi người sử dụng lao động tham gia. Nhiều ngành có chương trình khung, nhiều ngành không có. Chương trình đào tạo không đạt chuẩn vẫn không sao, vẫn nhận chỉ tiêu bình thường. Như yêu cầu hàng năm các trường báo cáo chất lượng nhưng có trường vẫn không làm. Cơ quan kiểm định chất lượng ra đời được 4 năm, có trường tham gia có trường không, vẫn không sao. Kinh phí của nhà nước cho các trường vẫn không ảnh hưởng gì. Chúng ta thiếu chế tài. Phải làm thế nào để kinh phí nhà nước gắn với chất lượng thì mới làm các trường chuyển động được. Chúng ta chưa tạo động lực để các trường thiết tha với nâng cao chất lượng GD. Nhà nước hô hào, doanh nghiệp yêu cầu nhưng trường vẫn không thay đổi. Nếu không nâng cao chất lượng thì có khả năng các trường không tồn tại. Cần thiết kế một cơ chế để một trường có chất lượng thấp nhưng nếu quan tâm đến chất lượng thì sẽ phát triển. Quan tâm càng nhiều thì trường đó càng được lợi.

Tháng 12-2008, các trường ĐH phải công bố chuẩn đầu ra

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân chỉ đạo những việc cần làm ngay

– Công bố chuẩn đầu ra: Sau khi học xong, phải cho mọi người biết sinh viên đó sẽ làm gì, ứng xử như thế nào, biết được gì. Đề nghị đến tháng 12-2008, các trường phải công bố chuẩn đầu ra. Đây là việc phải làm, làm nhanh dù chuẩn đó ra sao. Sau đó, chúng ta sẽ rà soát giúp nâng chuẩn lên. Chương trình của Hà Lan có thể giúp ta. Tập huấn phương pháp công bố chuẩn cho các trường. Nếu không công bố thì chắc chắn phải có chế tài về tuyển sinh.

– Chuẩn giáo viên: Dù là giáo viên cũng phải được sinh viên đánh giá. Tiến tới tự chủ các trường. Hiệu trưởng có quyền quyết định mức lương cho giảng viên để giữ người.

– Chỉ tiêu tuyển sinh: Phải ràng buộc chỉ tiêu tuyển sinh để các trường có trách nhiệm đảm bảo chất lượng.

*****

PGS-TS Thái Bá Cần, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM
Giải bài toán... không có lời giải

Hiện nay các trường được giao giải một bài toán mà về lý thuyết là không có lời giải. Chúng ta phải bằng mọi giá nâng cao chất lượng giáo dục nhưng nguồn lực thì hữu hạn. Chúng ta cứ đưa ra những tiêu chí thật chặt chẽ nhưng lại không đủ điều kiện để thực hiện. Ví dụ như: cứ phải đòi hỏi bao nhiêu sinh viên/diện tích, hoặc bao nhiêu sinh viên/giảng viên. Trên thực tế, nếu áp dụng những điều như vậy thì hoặc có trường phải đóng cửa, hoặc phải giảm 10 lần quy mô đào tạo…

Trên 60% sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng ngành đào tạo

Tháng 5-2007, Bộ GD-ĐT yêu cầu các trường cung cấp thông tin về tình hình việc làm của SV sau tốt nghiệp. Đã có 89 trường gửi báo cáo, trong đó có 25 trường có số liệu về tỷ lệ SV tốt nghiệp có việc làm đúng ngành được đào tạo 1 năm sau khi tốt nghiệp. Kết quả cho thấy tỷ lệ SV có việc làm đúng ngành tăng lên so với số liệu khảo sát năm 2001. Đặc biệt, 25 trường với tỷ lệ SV tốt nghiệp có việc làm đúng ngành được đào tạo đạt trên 60%: Trường ĐH Y Dược TPHCM đạt 100%; ĐH Ngoại thương đạt 98%; ĐH Mỹ thuật đạt 97%; ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM đạt 95%...

Cùng chuyên mục