Năm 2012, chỉ tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) (theo đề án 1956), toàn tỉnh là 134 lớp với 4.689 học viên. Do khâu khảo sát, đăng ký các lớp nghề của địa phương và việc phân khai kinh phí cho từng nghề của tỉnh triển khai tương đối chậm, nên đến thời điểm này toàn tỉnh chưa mở được lớp nghề nào. Mặc dù vậy, tỉnh vẫn chỉ đạo phải siết chặt công tác đào tạo để nâng cao chất lượng của các lớp dạy nghề cho lao động nông thôn.
Theo quy định các giáo viên nghề ngoài cần chứng chỉ kỹ năng nghề còn phải có chứng chỉ sư phạm. Đặc biệt các cơ sở dạy nghề đều phải có giáo viên cơ hữu đúng với ngành nghề đào tạo đã đăng ký. Đây là những điều kiện bắt buộc đối với các cơ sở dạy nghề. Tuy nhiên, năm 2011, do đang nằm trong thời kỳ đầu triển khai đề án đào tạo nghề cho LĐNT nên Quảng Ninh vẫn phải chấp nhận tình trạng nhiều cơ sở dạy nghề “nợ” giáo viên cơ hữu hoặc có giáo viên song chưa có chứng chỉ sư phạm. Để giải quyết tình trạng trên, đối với nghề nông nghiệp, các cơ sở dạy nghề ký hợp đồng với cán bộ các trạm bảo vệ thực vật, trạm thú y (thuộc Sở NN&PTNT); đối với nghề phi nông nghiệp ký hợp đồng với các kỹ sư lành nghề tại các doanh nghiệp. Đội ngũ giáo viên này xét về trình độ chuyên môn tốt, tuy nhiên, lại không có kỹ năng sư phạm. Do đó phương pháp truyền đạt, giảng dạy chưa thực sự hợp lý, hiệu quả. Ngoài ra thì nhiều cơ sở dạy nghề triển khai theo hướng liên kết đào tạo hoặc thuê giáo viên nghề dạy tự do về làm giáo viên cơ hữu. Thực tế này dẫn đến tình trạng nhiều cơ sở thuê cùng một giáo viên nghề. Điều này cũng có nghĩa các cơ sở dạy nghề trên không tự chủ được về giáo viên, thậm chí trong các thời điểm cao điểm đành phải “ăn đong” giáo viên. Tình trạng này đã ảnh hưởng không ít tới tiến độ, chất lượng và hiệu quả của chương trình dạy nghề.
Thực tế thời điểm cuối năm 2011, do áp lực về đẩy nhanh tiến độ các lớp nghề để kịp thời điểm quyết toán (chậm nhất trước ngày 31-12) nên không ít cơ sở dạy nghề thiếu giáo viên cơ hữu phải cắt giảm tiết học hoặc phải học liền ca, học cả vào những ngày nghỉ, thời gian nghỉ. Bên cạnh đó, số giáo viên được coi là cơ hữu của nhiều cơ sở dạy nghề dường như phải chạy sô, một ngày dạy vài lớp, vài nơi. Thậm chí có cả trường hợp do giáo viên không bố trí được thời gian dạy đã phải cắt giảm thời gian học của người học. Do vậy một số các lớp nghề không đảm bảo về sĩ số duy trì lớp, thời gian và chất lượng đào tạo theo quy định.
Năm 2012 này, để thắt chặt hơn công tác đào tạo nghề cho LĐNT, UBND tỉnh đã chỉ đạo bắt buộc các cơ sở dạy nghề nếu muốn mở lớp phải có giáo viên cơ hữu đúng chuyên ngành đào tạo. Ngay sau khi có quy định trên, hàng loạt các cơ sở dạy nghề do không tìm được giáo viên cơ hữu đã bị cắt giảm số ngành nghề đăng ký, trong đó không ít cơ sở đã phải giảm 1/3 đến quá nửa số ngành nghề đã và đang đào tạo. Theo thống kê sơ bộ của cơ quan chức năng, số đơn vị phải cắt giảm ngành nghề đào tạo vì không có giáo viên cơ hữu nhiều nhất là khối các trung tâm dạy nghề, sau đó là các cơ sở dạy nghề trực thuộc đơn vị, doanh nghiệp. Tiêu biểu như Trung tâm GTVL của Sở LĐ-TB&XH; Trung tâm dạy nghề của Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Liên minh HTX, Liên đoàn Lao động tỉnh... Trong đó, ngay như Trung tâm GTVL của Sở LĐ-TB&XH, vốn là đơn vị đi đầu trong công tác dạy nghề cho LĐNT từ trước đến nay, với khá đầy đủ về cơ sở vật chất cũng như kinh nghiệm trong công tác tuyển sinh và thế mạnh giới thiệu việc làm..., song năm nay cũng bị cắt giảm 50% số nghề đào tạo. Cụ thể, năm 2011 Trung tâm triển khai 17 lớp nghề với 8 nghề học, năm nay chỉ được phép đào tạo 4 nghề với dự tính khoảng 8 lớp. Theo anh Trần Văn Thu, Trưởng Phòng Dạy nghề Sở LĐ-TB&XH cho biết: “Tình hình trên tại các trung tâm nghề còn lại còn khó khăn hơn. Bởi hầu hết các trung tâm này đều triển khai theo hướng liên kết đào tạo, không có nhà xưởng, lớp học, không có giáo viên...”.
Nếu như việc cắt giảm ngành nghề đào tạo do thiếu giáo viên đang rất “nóng” đối với các trung tâm dạy nghề, các cơ sở liên kết dạy nghề thì đối với các trường nghề dường như lại không mấy ảnh hưởng. Đơn giản bởi các đơn vị này luôn đáp ứng tốt về các tiêu chí giáo viên, giảng viên nghề theo quy định. Tuy nhiên, thuận lợi là thế song hiện các trường nghề này lại gặp khó khăn trong công tác tuyển sinh, ngành nghề đăng ký đào tạo cũng hạn chế. Ví dụ như Trường trung cấp nghề Xây dựng và Công nghiệp Quảng Ninh chỉ tham gia 3 ngành nghề, trong đó tập trung cho nghề gốm xây dựng. Trường trung cấp nghề Giao thông Cơ điện cũng chỉ tập trung cho một số nghề nhất định.
Theo nhận định của Trưởng Phòng dạy nghề, Sở LĐ-TB&XH Trần Văn Thu, việc chấn chỉnh công tác đào tạo nghề cho LĐNT theo hướng bắt buộc các cơ sở dạy nghề phải có đủ giáo viên cơ hữu đúng chuyên môn sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Người lao động khi tham gia các lớp nghề đó sẽ nắm bắt được đầy đủ hơn, đúng cách hơn các kiến thức, kỹ năng nghề, để sau đào tạo có thể áp dụng vào sản xuất thực tế. Tuy nhiên, cũng cần xét đến khía cạnh khi nhiều cơ sở dạy nghề bị “tuýt còi”, thì các đơn vị còn lại ít phải cạnh tranh hơn, thậm chí đứng ở thế độc quyền. Như vậy đồng nghĩa với việc người lao động, các địa phương có nhu cầu dạy nghề sẽ ít có cơ hội lựa chọn hơn, trong khi đó các đơn vị dạy nghề ngược lại có nhiều quyền hơn. Điều này cho thấy vẫn cần một cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ hơn để đảm bảo chất lượng của chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Việt Hoa