Đầu tư công nghiệp chế biến để Nâng cao giá trị nông sản: Hướng giải bài toán khó

Sản xuất nông nghiệp của tỉnh hiện có những bước tiến lớn, nhưng ngành chế biến nông sản lại “lẹt đẹt”. Để nâng cao giá trị gia tăng của nông sản hiện nay rất cần vai trò nhà nước trong việc tạo dựng cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư dây chuyền công nghệ chế biến, đảm bảo VSATTP.

Đi tìm nguyên nhân

Ông Nguyễn Văn Đức, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, khẳng định: Nguyên nhân khiến chế biến nông sản “lẹt đẹt” như hiện nay chính là do thiếu nguyên liệu. Ở  lĩnh vực trồng trọt, các nông sản được đánh giá lợi thế nhất cho công nghiệp chế biến là na, vải ở Đông Triều, Uông Bí; chè ở Hải Hà; cam Vân Đồn; rau an toàn ở Quảng Yên, Hải Hà, Đông Triều. Chỉ nói về diện tích và sản lượng, thì các nông sản này cũng chưa phải là đối tượng lý tưởng của doanh nghiệp chế biến, vì diện tích còn nhỏ, sản lượng chưa cao, kể cả đối với quả na, quả vải vốn diện tích cao nhất, trên 1.000ha. Bên cạnh đó, mỗi loại cây này đều đang tồn tại những vấn đề nhất định, như quả na Đông Triều hiện chủ yếu dành cho thị trường ăn tươi, nhiều thời điểm cung chưa đủ cầu, nên đương nhiên không có “cửa” cho việc thu mua chế biến. Cây vải, cây chè hiện đã đến giai đoạn cần cải tạo giống để nâng cao sản lượng và chất lượng…

Công nhân Công ty CP Thông Quảng Ninh kiểm tra các thông số kỹ thuật mẻ chế biến tùng hương chuẩn bị xuất sang Nhật Bản.
Công nhân Công ty CP Thông Quảng Ninh kiểm tra các thông số kỹ thuật mẻ chế biến tùng hương chuẩn bị xuất sang Nhật Bản.

Đối với lĩnh vực chăn nuôi, có cơ sở để nói rằng doanh nghiệp chế biến không nhìn thấy niềm tin ở đây khi hiện trên 90% mô hình chăn nuôi của tỉnh là chăn nuôi nông hộ. Các mô hình chăn nuôi tập trung thì rất hiếm hoi. Trại lợn Minh Châu (Hà Khánh, Hạ Long) được đánh giá lớn nhất tỉnh với quy mô 5.000 lợn thịt và 4.000 lợn nái, lợn con, lợn hậu bị/lứa (1 năm 2-4 lứa) song là cơ sở sản xuất của Tập đoàn C.P Thái Lan, nên toàn bộ sản phẩm không tiêu thụ trên địa bàn. Các mô hình chăn nuôi của Thiên Thuận Tường (Cẩm Phả), Thái Lành (Quảng Yên), trại gà Tân An (Quảng Yên)… bước đầu sản xuất tập trung, nhưng sản lượng chỉ phù hợp dành cho các bếp ăn, chưa phục vụ về nguyên liệu cho các dự án chế biến.

Riêng nguồn nguyên liệu dành cho chế biến lâm nghiệp hiện được đánh giá có ưu thế hơn khi diện tích rừng sản xuất trên địa bàn lớn. Tuy nhiên, rừng chủ yếu trồng cây gỗ nhỏ, vốn chỉ phù hợp với chế biến thô (dăm gỗ) và xuất cho các đơn vị trung gian, giá trị rất thấp và thiếu ổn định. Mặc dù hiện tỉnh đã có một số đơn vị chế biến lâm sản sâu, nhưng do nguyên liệu tại chỗ ít, nên phải trông đợi vào nguồn nguyên liệu từ các tỉnh, thành khác.

Nguồn nguyên liệu về thuỷ sản được đánh giá lợi thế nhất cho công nghiệp chế biến với sản lượng khoảng 80.000 tấn/năm, gấp 2 lần nhu cầu nội địa toàn tỉnh. Nhưng trên 50% sản lượng này được thương lái thu mua ngay trên biển, khi các tàu khai thác còn chưa cập đất liền; số còn lại được xuất bán cho Trung Quốc, và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng rất lớn của khách du lịch, người dân bản địa. Bởi vậy, giá hải sản của Quảng Ninh luôn cao hơn các thị trường khác từ 20-30% và như vậy sẽ là rào chắn lớn đối với tất cả các đơn vị chế biến thuỷ sản.

Những chuyển động mới

Trên 50% sản lượng được thương lái thu mua ngay trên biển, khi các tàu khai thác còn chưa cập đất liền; số còn lại được xuất bán cho Trung Quốc, và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng rất lớn của khách du lịch, người dân bản địa. Bởi vậy, giá hải sản của Quảng Ninh luôn cao hơn các thị trường khác từ 20-30% và như vậy sẽ là rào chắn lớn đối với tất cả các đơn vị chế biến thuỷ sản.

Việc thiếu nguyên liệu, nguyên liệu giá cao như trên đã khiến cho các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn khó càng thêm khó. Theo giới chuyên môn, để khắc phục tình trạng này không cách gì khác là phải chuyển từ chế biến thô sang chế biến tinh và chế biến theo chuỗi. Tức sản phẩm chế biến của các doanh nghiệp phải tiêu dùng được ngay chứ không chỉ ở dạng chế biến thô - “cấu đầu rút ruột” rồi xuất cho các doanh nghiệp chế biến khác. Bên cạnh đó, doanh nghiệp làm chế biến tốt nhất là những doanh nghiệp đang sản xuất nông sản trực tiếp, chủ động được về cả nguồn nguyên liệu sản xuất, thiết bị, quy trình chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Hiện nhiều doanh nghiệp chế biến nông sản đã bắt kịp xu hướng tinh và theo chuỗi, làm ăn ngày càng khởi sắc. Tiêu biểu như Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại thuỷ sản Quảng Ninh đã đầu tư hệ thống nhà xưởng, dây chuyền, thiết bị chế biến sản phẩm ruốc hàu, ruốc cơ trai, hàu sấy khô, hàu tẩm gia vị và nem hàu… theo quy trình khép kín và an toàn thực phẩm. Đảm bảo nguyên liệu cho Công ty là trên 500ha hàu Thái Bình Dương đang được nuôi tại Bản Sen (Vân Đồn); các sản phẩm của Công ty đều được thực hiện liên hoàn từ khâu bóc tách, cấp đông, trần, sấy khô, xé, xào, đóng lọ, thanh trùng, dán nhãn... Sản phẩm của Công ty xuất ra thị trường đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, lượng tiêu thụ lớn. Riêng sản phẩm ruốc hàu và ruốc cơ trai mỗi tháng xuất trên 3.000 hộp. Sản phẩm của Công ty CP Thông Quảng Ninh, chiếm 70% tổng sản lượng tùng hương xuất khẩu của cả nước, trong đó đa số là các thị trường khó tính như Nhật Bản, Nga, Mỹ, Pháp, Đức; doanh thu mỗi năm trên 600 tỷ đồng. Có được thành công này là nhờ Công ty có vùng nguyên liệu rộng lớn với khoảng trên 2.000ha tại Quảng Ninh và hàng trăm nghìn ha tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Công ty đang chuyển hướng sang các sản phẩm tinh, giá trị cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN&PTNT, khẳng định: Bản thân các doanh nghiệp trên đều có lợi thế riêng là sản xuất được nguyên liệu, việc chế biến sản phẩm chỉ là thêm một khâu trong quy trình sản xuất của mình. Sản phẩm đã ở dạng tinh, người tiêu dùng có thể sử dụng được ngay, nên dễ dàng phù hợp với nhu cầu của thị trường.

Bởi vậy, các doanh nghiệp chế biến tại Quảng Ninh nếu theo hướng chế biến tinh và theo chuỗi hoàn toàn có thể “sống” được, “sống” tốt, Quảng Ninh còn trở thành mảnh đất “màu mỡ” của các doanh nghiệp chế biến nông sản có tiềm lực.

Việt Hoa

Cùng chuyên mục