Để văn hóa trở thành sản phẩm sáng tạo

Đào tạo nhân lực văn hóa đang được đặt ra, không chỉ trong các cơ sở giáo dục, mà còn ở cách nhìn về vai trò của người làm văn hóa trong nền kinh tế sáng tạo. Người làm văn hóa không chỉ biết bảo tồn di sản mà còn phải sáng tạo sản phẩm văn hóa, kể câu chuyện văn hóa bằng ngôn ngữ của nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu của thị trường sáng tạo.

Mẫu thiết kế voi linh sơn bản thú nhồi bông gợi nhớ về truyền thuyết núi Voi (Tượng sơn) của Yên Tử, làm sản phẩm lưu niệm.
Mẫu thiết kế voi linh sơn bản thú nhồi bông gợi nhớ về truyền thuyết núi Voi (Tượng sơn) của Yên Tử, làm sản phẩm lưu niệm.

Nhiều năm trước đây, đào tạo nguồn nhân lực văn hóa chủ yếu hướng tới việc cung cấp cán bộ cho hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở hay các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cách tiếp cận này hiện nay đã không còn phù hợp khi mà công nghiệp văn hoá, công nghiệp sáng tạo đang phát triển mạnh mẽ. Từ đó, yêu cầu dành cho nguồn nhân lực văn hóa cũng có những thay đổi căn bản, đặc biệt là nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp sáng tạo, như: Đạo diễn, biên kịch, quay phim, thiết kế đồ hoạ, nghệ sĩ biểu diễn, thiết kế thời trang… Với lợi thế về tài nguyên nhân văn phong phú, Quảng Ninh là nơi có nhiều lợi thế để cho nguồn nhân lực sáng tạo này có đất dụng võ.

Tháng 12/2025, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành văn hóa tỉnh Quảng Ninh” đến năm 2030. Mục tiêu chung của Đề án là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành văn hóa tỉnh Quảng Ninh, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ và công tác tuyển dụng công chức, viên chức; triển khai thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; sử dụng, đãi ngộ nhân tài.

Nguồn nhân lực hướng đến chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nguồn nhân lực ngành văn hóa đồng bộ cả về số lượng và chất lượng, với trình độ và kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới.

Để triển khai hiệu quả Đề án, UBND tỉnh đã đưa ra các nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ quản lý văn hóa cấp tỉnh; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ quản lý văn hóa cấp xã, phường, đặc khu; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực những người làm công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở thôn, bản, khu phố và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là các nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian.

Các nhiệm vụ thực hiện giải pháp bao gồm: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực văn hóa, nghệ thuật, di sản văn hóa; tạo môi trường để các trí thức, văn nghệ sĩ và học sinh, sinh viên được sáng tạo, cống hiến, rèn luyện phát triển tài năng; ban hành cơ chế, chính sách.

Về lâu dài, cần quan tâm chiến lược cán bộ cho ngành, đặc biệt là đội ngũ ở cơ sở, nghiên cứu phương án thành lập cơ sở đào tạo chuyên ngành về văn hóa - nghệ thuật nhằm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng trong thời gian tới cũng như phục vụ cho giao lưu văn hóa, nghệ thuật.

Trường Đại học Hạ Long là nơi đào tạo nguồn nhân lực văn hóa của tỉnh. Các khoa Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch của Trường đang đào tạo theo hướng kết hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề nghiệp ngay khi sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường. Sinh viên của các khoa không chỉ được học về lý luận và kỹ năng mà mà còn tham gia tổ chức sự kiện, hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chương trình giao lưu văn hóa, hay các hoạt động du lịch cộng đồng, tìm hiểu về đời sống văn hóa bản địa thông qua những trải nghiệm thực tế, từ đó có sự hiểu biết và chất liệu sáng tạo những sản phẩm cho ngành công nghiệp văn hóa.

Một giờ ngoại khoá của sinh viên Khoa Văn hoá, Trường Đại học Hạ Long.
Một giờ ngoại khoá của sinh viên Khoa Văn hoá, Trường Đại học Hạ Long.

Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa đang trở thành động lực tăng trưởng mới của nhiều nền kinh tế, một lĩnh vực kinh tế quan trọng, cần từng bước đưa các hoạt động văn hóa trở thành sản phẩm kinh tế có giá trị, gắn kết chặt chẽ với phát triển du lịch; phát triển đồng bộ các loại hình nghệ thuật, hình thành các sản phẩm văn hóa đặc trưng phục vụ du lịch, góp phần nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến.

Theo TS Đinh Đức Tiến, thành viên nhóm nghiên cứu văn hóa Việt Nam, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Quảng Ninh cần có đội ngũ làm công tác sáng tạo dựa trên sự kết hợp giữa nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa nghệ thuật và các nghệ nhân dân gian để đưa ra những kịch bản sân khẩu phim, clip, âm nhạc, sản phẩm số. Và sau đó, tổ chức thực hiện dàn dựng thành các sản phẩm văn hóa du lịch cụ thể.

Tương tự, TS. Lý Viết Trường, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng: “Quảng Ninh cần phát triển đội ngũ “hướng dẫn viên bản địa” và “người kể chuyện di sản”. Cộng đồng cần được đào tạo kỹ năng thuyết minh, diễn giải văn hóa, tổ chức hoạt động trải nghiệm và đón tiếp du khách. Các hộ làm du lịch cộng đồng (homestay) cần được hỗ trợ xây dựng “câu chuyện bản sắc” riêng cho sản phẩm của mình, tạo dấu ấn độc đáo giữa các thôn bản và giúp nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách”.

Cùng chung quan điểm này, TS Trần Hạnh Nguyên, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết: “Về con người, cần có chính sách hỗ trợ thiết thực đối với nghệ nhân và người làm nghề truyền thống nhằm tạo điều kiện duy trì sản xuất và truyền nghề. Đồng thời, tổ chức các chương trình tập huấn về kỹ năng du lịch cộng đồng, thiết kế sản phẩm, giao tiếp với du khách và kể chuyện văn hóa cho người dân tham gia hoạt động du lịch. Việc nâng cao năng lực chuyển tải giá trị văn hóa thông qua sản phẩm sẽ góp phần gia tăng giá trị cảm xúc và nhận thức cho du khách”.

Cùng chuyên mục