"Đi nhiều, học hỏi và vận dụng sáng tạo"

Đi vững bằng cả “hai chân” là giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn, Đông Triều vẫn tạo được những điểm nhấn. Đó là số học sinh giỏi luôn đứng top đầu các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, nhất là với các môn tin học, tiếng Anh; kỷ lục 17 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia năm qua, nâng tổng số 68/87 trường trên địa bàn đạt chuẩn. Đặc biệt, Trung tâm Thông tin điện tử, một thành công từ việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy và học của địa phương đã được nhân rộng trong toàn tỉnh.

(Nhà giáo Ưu tú Lưu Xuân Giới, Trưởng Phòng GD-ĐT huyện Đông Triều, trả lời phỏng vấn Báo Quảng Ninh)

- Kết quả GD-ĐT của huyện có những nét nổi trội, khác biệt so với mà các địa phương khác trong tỉnh, như về ứng dụng CNTT, xây dựng trường chuẩn... Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm về những thành công này?

+ Để có những “điểm riêng” như bạn nói thì phải nhắc đến một “điểm chung” xuyên suốt trong cả quá trình của địa phương, là chúng tôi đã mạnh dạn “đi trước, đón đầu” các chủ trương lớn của ngành. Như về chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên, yếu tố quyết định tới chất lượng đào tạo, chúng tôi chỉ bồi dưỡng những thứ thiết thực, gắn với nhiệm vụ, công việc cụ thể. Chúng tôi vận động anh em đi học nâng cao trình độ vào hè và chủ động về kinh phí, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nhỏ. Vì vậy, khi Nghị quyết T.Ư 8 (khoá XI) về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT ra đời, chúng tôi rất yên tâm vì đã đi đúng hướng và đã đi trước một bước khá dài. Trước đây, để cho giáo viên đi học, chúng tôi phải thuyết phục các cơ quan chức năng, vì nhiều người có suy nghĩ theo kiểu dạy mầm non, tiểu học thì chỉ cần trung cấp thôi. Vậy là, hiện Đông Triều đã đạt tiêu chuẩn khá cao về chất lượng đội ngũ với tỷ lệ giáo viên mầm non trên chuẩn của huyện là 70,58% (trong đó 60% có trình độ đại học), cấp tiểu học tỷ lệ này 77,1% và THCS là 59,44%.

Ứng dụng CNTT trong dạy và học tại Trường Tiểu học Vĩnh Khê (thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều).
Ứng dụng CNTT trong dạy và học tại Trường Tiểu học Vĩnh Khê (thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều).

Hay như với xây dựng trường chuẩn, huyện có 2 thắng lợi lớn. Đó là đi trước một bước về quy hoạch đất, ngay từ năm 2008 chúng tôi đã gần như hoàn tất việc mở rộng đất của các trường trên địa bàn. Thứ hai là xã hội hoá nguồn lực, những nơi có điều kiện thuận lợi chúng tôi vận động xã hội hoá để xây dựng cơ sở vật chất, có trường tỷ lệ xã hội hoá tới 30%; ngược lại, những trường ở vùng khó khăn thì sẽ được huyện đầu tư nhiều hơn. Vậy là cơ sở vật chất, tiêu chí “xương” nhất khi xây dựng trường chuẩn đã được tháo gỡ.

Một trong 5 đột phá của Đông Triều là ứng dụng CNTT trong dạy và học. Ngay từ năm 2008 khi Bộ GD-ĐT có ý tưởng về việc này thì chúng tôi đã nghiên cứu và triển khai, nên đến năm 2009 khi Bộ ra các văn bản chính thức thì Đông Triều đã làm xong bước đầu rồi. Việc đào tạo về CNTT cho giáo viên và cán bộ quản lý triển khai từ đó, đến hè này huyện sẽ hoàn thành dứt điểm về phổ cập tin học cho đội ngũ giáo viên.

- Đi tiên phong hẳn là Đông Triều gặp rất nhiều khó khăn, vì mọi thứ còn quá mới?

+ Đúng vậy. Điển hình là việc ứng dụng CNTT. Ban đầu, ngay cả lãnh đạo Phòng GD-ĐT cho đến giáo viên đều lo, thậm chí phản đối vì sợ không làm được, sợ không thành công. Nhưng đã là xu hướng tất yếu, nhất thì giáo dục không thể đứng ngoài cuộc được. Giáo dục lúc đó đang lúng túng trong cách đổi mới, vì vậy chúng tôi quyết tâm đưa CNTT vào trường học với mong muốn học trò được tiếp cận với những thứ hiện đại nhất, đừng sợ các em không làm được. Hiệu quả thực tế rồi sẽ thuyết phục tất cả, quan trọng là có cách làm phù hợp. Để đào tạo tin học cho các giáo viên, chúng tôi vận dụng hình thức dạy “truyền tay”, dạy những nội dung xác thực nhất. Từ chỗ mò mẫm để tìm kiếm tư liệu tự học, chúng tôi nghĩ ra việc thành lập Trung tâm Thông tin điện tử để mọi người có chỗ mà học. Đây cũng là một bước để nâng cao chất lượng đội ngũ. Giờ thì không ai còn ngại không làm được nữa mà đều rất thích, thấy rất hiệu quả, cần thiết khi sử dụng CNTT.

Thuận lợi của chúng tôi là được sự ủng hộ của huyện ngay từ đầu cả về tinh thần và vật chất. Năm 2008, huyện tập trung kinh phí để làm, có lúc đã trở thành sự kiện trong toàn huyện, như việc 100% các trường kết nối ADSL. Có khi đơn vị viễn thông phải kéo đường dây tới 3km chỉ để lắp cho 1 thuê bao, nhưng vẫn quyết tâm. Giờ thì huyện đang tiến hành tiếp việc xây dựng mô hình “Trường học thông minh - Lớp học thông minh”. Đây là đỉnh cao của ứng dụng CNTT trong dạy và học mà nhiều nước tiên tiến trong khu vực như Hàn Quốc, Sinhgapo, Trung Quốc... đã làm.

Đông Triều đưa CNTT vào trường học không ngoài mục đích nâng cao chất lượng dạy - học, đổi mới giáo dục. Minh chứng rõ ràng nhất là từ năm 2008 ứng dụng CNTT vào trường học đến nay, chất lượng giáo dục của địa phương đã tăng lên rất nhiều, không chỉ là về học lực của học sinh, mà các em đã được trang bị tâm thế vững vàng, tự tin hơn trong xu thế hội nhập hiện nay. Chất lượng đại trà là như thế. Còn chất lượng mũi nhọn thì nhiều năm qua ở các kỳ thi học sinh giỏi Đông Triều có lẽ chỉ xếp sau Hạ Long; với các giải như tin học trẻ, tiếng Anh thì học sinh Đông Triều “đồng hạng, thậm chí có thời điểm còn vượt cả Hạ Long.

- Với vai trò là người “đứng mũi chịu sào”, hẳn ông cũng có những “bí quyết” riêng?

+ Tôi rất thích đi và chịu đi, đi để thấy, rút ra những kinh nghiệm và vận dụng sáng tạo cho địa phương mình. Đến Singapo, nhiều người bảo trường học như thiên đường, làm sao mà học được, nhưng tôi lại thấy có nhiều thứ để học, như CNTT của Đông Triều đâu có kém gì. Khi bắt tay vào làm là phải quyết tâm, làm đến cùng và có cách làm phù hợp. Như phát triển CNTT, nếu Đông Triều mà làm hẳn một đề án cho toàn bộ các trường thì nguồn vốn đội lên “kinh khủng”, không ai dám duyệt cả. Vì vậy, chúng tôi “chẻ nhỏ” ra, chỉ đạo cho các trường tự làm. Còn như xây dựng trường chuẩn quốc gia, từ khi còn là một hiệu trưởng, tôi đã nhận thấy khi phát triển trường lên là rất cần tới quỹ đất, vì vậy khi ở cương vị lãnh đạo Phòng GD-ĐT, tôi đã có ý kiến về quy hoạch quỹ đất ngay cho các trường.

Khiêm tốn học hỏi, nhưng chúng tôi có sự sáng tạo, linh hoạt khi vận dụng vào thực tế địa phương. Như mô hình “Lớp học thông minh” ở Hà Nội rất tốn kém, khó nhân rộng ngay vì bục giảng thông minh gắn cố định. Còn ở Đông Triều, chúng tôi làm di động, như vậy trong một ngày, một bộ máy có thể phục vụ cho nhiều lớp học. Hay như kiến trúc các trường mầm non ở Bắc Ninh rất hay, nhưng khi xây dựng ở Đông Triều lại phải tuỳ vào điều kiện đất đai cụ thể mà thiết kế cho phù hợp. Rồi như “Trường học thông minh” ở Hàn Quốc có hệ thống camera giám sát trong toàn trường, áp dụng ở Đông Triều, chúng tôi sẽ thí điểm làm trước ở các trường mầm non, nơi mà nhu cầu được xem con em mình ở trường ra sao cần thiết hơn cả...

- Xin cảm ơn ông!

Phan Hằng (Thực hiện)

Cùng chuyên mục