Đón anh về đất mẹ

Tôi lặng người đi khi nghe lời điếu văn của ông khu trưởng khu phố 1, phường Hồng Gai (TP Hạ Long) trong lễ tiễn đưa di cốt liệt sĩ Phạm Hùng Phong về Nghĩa trang Liệt sĩ Hà Tu (TP Hạ Long). Di cốt phủ lá quốc kỳ, trên vai của những đồng đội của anh ở Binh đoàn Than năm xưa, trân trọng đặt lên chiếc xe mui trần, đưa anh về nghĩa trang. Giữa tiếng kèn trầm hùng của Đội kèn đồng CCB phường Bãi Cháy (TP Hạ Long), bà con tổ dân khu phố và nhiều đồng đội của anh, tiễn anh về với đất mẹ Hạ Long...

Ông Phạm Hùng Ứng, em trai của liệt sĩ Phạm Hùng Phong kể: “Anh Phong trước khi đi bộ đội là công nhân Nhà máy Cơ khí Hòn Gai. Ngày 5-8-1964 chứng kiến máy bay Mỹ đánh phá căn cứ Hải quân ngay cạnh bến phà, những tràng súng kiên cường bắn trả của ta từ các tàu hải quân, đã gieo vào lòng anh em chúng tôi phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Ngày 30-7-1967 anh Phong lên đường trong đội hình Binh đoàn Than tăng cường cho chiến trường miền Nam. Chuyến phà đưa anh tôi về đơn vị, mẹ tôi khóc, không đủ can đảm tiễn con. Cha tôi không nói, chỉ lặng nhìn anh tôi, mong có ngày con trở về lại là người thợ giỏi của nhà máy. Người cô ruột cầm chặt tay cháu cho đến lúc cháu lên phà. Đây là hình ảnh cuối cùng của anh tôi với người thân, bởi cho đến tận lúc anh hy sinh, gia đình tôi chỉ còn giữ được 3 lá thư của anh gửi về, trong đó lá thư cuối cùng đề ngày 19-2-1968 viết từ Quảng Trị.

Chính quyền địa phương cùng gia đình, đồng đội, người dân khu phố 1, phường Hồng Gai (TP Hạ Long) đưa hài cốt liệt sĩ Phạm Hùng Phong về Nghĩa trang Liệt sĩ Hà Tu (TP Hạ Long).
Chính quyền địa phương cùng gia đình, đồng đội, người dân khu phố 1, phường Hồng Gai (TP Hạ Long) đưa hài cốt liệt sĩ Phạm Hùng Phong về Nghĩa trang Liệt sĩ Hà Tu (TP Hạ Long).

Cha tôi là thợ tiện tài hoa của Nhà máy Cơ khí Hòn Gai. Khi nhà máy bị máy bay Mỹ bắn phá, nhiều máy móc phải đưa đi sơ tán, cha con tôi được nhà máy phân công ở lại trông coi. Một ngày, có người quen từ miền Nam ra, báo tin anh tôi đã hy sinh, nhưng không biết hy sinh ở đâu, vì tin này do một đồng đội của anh tôi, điều trị ở một trạm y tế tiền phương nói lại. Đến tháng 7-1972, tại căn hầm của Công ty Than Hòn Gai ở phố Hàng Than bây giờ, một sĩ quan của Thị Đội Hồng Gai trao giấy báo tử anh tôi hy sinh ngày 18-2-1969 tại chiến trường miền Nam, cùng một lá thư chia buồn của Tỉnh Đội Quảng Ninh...

Sau năm 1975, có hai người lính Binh đoàn Than trở về nhà máy, cho biết anh tôi hy sinh ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu 1969, tại một trảng rừng ở Tây Ninh, trong một lần giáp chiến với biệt kích Mỹ. Từ đó gia đình tôi biết chính xác ngày giỗ của anh tôi. Gần 40 năm sau, tưởng chừng nguyện vọng của gia đình là tìm và đưa hài cốt của anh tôi về quê nhà không thể thực hiện được, thì một ngày chờ lĩnh lương hưu trước Tết Kỷ Mão 2011, tình cờ tôi gặp, nói chuyện với một đồng đội của anh tôi ở Binh đoàn Than năm xưa. Ông chợt nhớ ra, anh tôi hy sinh tại một cánh rừng bên bờ con suối Rây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Rồi cũng lại tình cờ, tôi nói chuyện và được một người bạn mới quen gọi điện cho một người trong gia đình đang sống ở Tây Ninh tìm hộ mộ anh tôi ở Nghĩa trang Liệt sĩ Tân Châu. Vài ngày sau, người bạn điện bảo Tân Châu không có nghĩa trang liệt sĩ. Con tôi tra cứu những trang mạng làm từ thiện, đã tìm thấy thông tin về người bác ruột có tên trên trang mạng địa chỉ Nguyễn Sỹ Hồ, người Hà Tĩnh, hiện sống ở Bình Dương. Gia đình xin giấy giới thiệu của Phòng LĐ-TB&XH TP Hạ Long gửi vào Tây Ninh nhờ ông Chân, người anh em của bạn tôi ở Tây Ninh, vào các nghĩa trang liệt sĩ tìm kiếm mộ thân nhân. Lần thứ nhất không vào được, vì nghĩa trang nằm trong khu quân sự, đang diễn tập. Lần thứ hai, gia đình nhận được điện thoại đã tìm thấy mộ liệt sĩ Phạm Hùng Phong, quê quán chỉ ghi Vụng Đâng. Ông Chân lại cất công đi hàng trăm km đến Bộ Tư lệnh Quân khu 7. Một vị tướng đã chỉ đạo phòng nghiệp vụ tìm hồ sơ các liệt sĩ của Quân khu, xác nhận Hồng Gai, Quảng Ninh có 2 liệt sĩ, trong đó ghi đầy đủ liệt sĩ Phạm Hùng Phong, quê quán Vụng Đâng - Hồng Gai - Quảng Ninh. Ông Chân cầm tờ xác nhận của Quân khu, đến BQL Nghĩa trang Liệt sĩ Tân Biên, thì được trả lời, không cho di dời hài cốt liệt sĩ. Ông đành chịu, gửi hết giấy tờ ra Hạ Long cho tôi. Tôi hoàn chỉnh và gửi hồ sơ vào Tây Ninh cho ông Chân. Nghĩa trang Tân Biên xin lỗi ông Chân và đồng ý xác nhận mộ anh tôi có ở nghĩa trang để Phòng LĐ-TB&XH huyện Tân Biên cấp giấy xác nhận phần mộ. Tờ giấy giới thiệu của Phòng LĐ-TB&XH TP Hạ Long chỉ ghi tên 1 người, trong khi gia đình đi vào Tây Ninh 3 người, nên tỉnh Tây Ninh chỉ cấp tiền hỗ trợ cho 1 người. Điện ra để xin lại giấy giới thiệu, nhưng thành phố chỉ ghi tên 2 người và nhờ ông Chân hỗ trợ. Tỉnh Tây Ninh vẫn không chấp nhận. Lần thứ ba, TP Hạ Long cấp giấy giới thiệu có tên cả 3 người trong gia đình, tỉnh Tây Ninh mới đồng ý cho phép gia đình tôi vào để đưa hài cốt anh tôi về quê hương. Suốt mấy tháng trời, biết bao công sức của ông Chân, một người chỉ là cùng quê miền Bắc, biết bao lần đi về đến các cơ quan ở Tây Ninh, gia đình tôi mới đủ thủ tục cho phép di dời hài cốt anh tôi.

Lễ tiễn anh tôi về Nghĩa trang Liệt sĩ Hà Tu có đông đủ đại diện cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, cô bác, họ hàng, làng xóm và nhiều đồng đội Binh đoàn Than năm xưa với rất nhiều cảm động. Thế là sau gần 40 năm với bao mong mỏi, hy vọng, cuối cùng gia đình và đồng đội đã đưa được anh tôi về nơi đất mẹ yên nghỉ...”.

Nguyễn Gia Phong

Cùng chuyên mục