Theo số liệu tổng điều tra dân số, từ năm 2009 đến năm 2012 tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh là 115 bé trai/100 bé gái. Sang năm 2013, tỷ số giới tính này đã có chiều hướng giảm xuống còn 114,6 bé trai/100 bé gái. Tuy nhiên, Quảng Ninh vẫn là một trong 10 tỉnh có tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh cao nhất toàn quốc.
Nhận thức được hệ lụy của vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh và vai trò quan trọng của bình đẳng giới, trên cơ sở Đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015, ngành Y tế của tỉnh đã đẩy mạnh các giải pháp thực hiện nhằm giảm sự chênh lệch tại 31 xã trên toàn tỉnh thực hiện Đề án và các địa phương có nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh cao. Cụ thể như: Tăng cường công tác phối hợp liên ngành trong triển khai, thực hiện các hoạt động tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, thái độ và dần xoá bỏ định kiến về giới; chú trọng giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ về giới tính, bình đẳng giới cho vị thành niên/thanh niên nam, nữ chuẩn bị kết hôn; đáp ứng đầy đủ nhu cầu về các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ sinh sản/ KHHGĐ; nghiêm túc thực hiện công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm quy định về dân số và bình đẳng giới tại các cơ sở y tế công lập và tư nhân trên địa bàn tỉnh.
Không những vậy, với chỉ tiêu “Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản dưới 23/100.000 trẻ đẻ sống hàng năm”, với hệ thống đồng bộ từ tỉnh đến 100% các Trạm Y tế, những năm gần đây, nhiều biện pháp can thiệp hiệu quả như: Quản lý phụ nữ mang thai, phát hiện thai có nguy cơ, chuyển tuyến kịp thời, nâng cao chất lượng chăm sóc tại các cơ sở y tế cũng được triển khai. Tiếp đến là Chương trình dự phòng lây truyền mẹ con cũng được triển khai tại 13/14 huyện, thị xã, thành phố; 8 bệnh viện cung cấp dịch vụ trọn gói (quản lý và cung cấp dịch vụ dự lây truyền HIV từ mẹ sang con; điều trị, hỗ trợ dinh dưỡng cho mẹ, cấp sữa ăn thay thế cho con). Bên cạnh đó, còn có các Trung tâm Y tế cung cấp dịch vụ chuyển tiếp (tư vấn, xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai, chuyển tiếp các trường hợp phụ nữ mang thai nhiễm HIV đến các cơ sở cung cấp dịch vụ trọn gói). Nhờ đó, phụ nữ mang thai trong quá trình quản lý thai nghén được tư vấn, xét nghiệm HIV và chuyển tiếp các dịch vụ khi cần thiết. Phần lớn các thai phụ đều được xét nghiệm HIV miễn phí 2 lần trong thai kỳ. Đặc biệt, nhằm giảm tỷ lệ phá thai xuống dưới 27/100 trẻ đẻ sống vào năm 2015, tỉnh đã tập trung tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giới, giới tính, thay đổi hành vi trong chăm sóc sức khoẻ phụ nữ và KHHGĐ; vận động nam, nữ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, đồng thời phát triển cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS cho phụ nữ.
Nhờ những biện pháp can thiệp hiệu quả, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh của tỉnh năm 2013 giảm 0,3% so với năm 2012. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám quản lý thai nghén và phụ nữ đẻ tại cơ sở y tế hoặc do cán bộ y tế đỡ đạt trên 98%. Tỷ lệ bà mẹ và trẻ sơ sinh được nhân viên y tế chăm sóc tuần đầu sau sinh đạt 98%. Do thực hiện tốt công tác quản lý thai, chăm sóc trước, trong, sau sinh, đỡ đẻ an toàn, tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản được hạn chế ở mức thấp, năm 2013 chỉ có 1 ca tử vong mẹ. Tỷ lệ phá thai cũng giảm xuống còn 41,6% (năm 2012 là 42,1%). Tỷ lệ phụ nữ mang thai được xét nghiệm HIV, tiếp cận các dịch vụ chăm sóc và phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con là 80%.
Không chỉ các sở, ban, ngành liên quan, các doanh nghiệp trong tỉnh cũng vào cuộc tích cực. Phần lớn các doanh nghiệp đã phối hợp với tổ chức công đoàn tại đơn vị tổ chức khám sức khoẻ định kỳ từ 1-2 lần/năm cho lao động nam và nữ theo quy định của pháp luật lao động; riêng lao động nữ được khám chuyên khoa đạt trên 90%. Tuy nhiên, ở một số doanh nghiệp ngoài nhà nước do sản xuất kinh doanh còn khó khăn, việc khám sức khoẻ định kỳ cho CNLĐ chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định.
Lưu Phương Thảo