Họ là những thợ lò của các xí nghiệp than Khe Tam và Cẩm Thành (Công ty TNHH MTV Than Hạ Long - Vinacomin). Họ đến với nghề thợ lò khác nhau, gần như cùng thời điểm...
Đinh Văn Lợi, thợ lò Phân xưởng khai thác 1, Xí nghiệp Than Khe Tam, sinh năm 1979, người Nam Định, có người bác đang làm việc ở TP Cẩm Phả (Quảng Ninh). Sau khi học xong phổ thông ở quê, Lợi ra nhà bác, rồi sau đi học ở Trường nghề mỏ Hồng Cẩm, ngành khai thác hầm lò; ra trường đầu năm 1999, về làm ở Than Quang Hanh, sau đó chuyển về Than Khe Tam.
Nguyễn Văn Lương, thợ lò Phân xưởng khai thác 2, Xí nghiệp Than Khe Tam, sinh năm 1972, người Mê Linh, Hà Nội. Lương đi bộ đội về (1993), có người anh làm thợ khoan địa chất, ở Cẩm Phả, Lương ra đó tá túc. Sau đi làm nghề xây dựng cho một công ty xây dựng của Hải Phòng, đi khắp nơi, cả ở ngoài miền Đông tỉnh Quảng Ninh. Năm 1997, nghe bạn bè rủ, Lương xin vào học nghề thợ lò Trường Hồng Cẩm. Năm 1999 ra trường, về làm ở Khe Tam từ đó.
Còn Phạm Văn Hậu, thợ lò Phân xưởng khai thác 6, Xí nghiệp Than Cẩm Thành, sinh năm 1981, người Hải Dương, vào nghề thợ lò khá đặc biệt. Năm 18 tuổi, Hậu theo các anh cùng làng ra làm than thuê cho một chủ lò đào than (mà người ta vẫn hay gọi là làm than “thổ phỉ”) ở vùng chân đèo Hạ My (huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh, giáp giới với huyện Sơn Động, Bắc Giang). Làm tất cả các công việc: Đội than, khao than, đào lò, chống lò (bằng gỗ). Sau đó Hậu trở thành 1 trong 95 công nhân đầu tiên của Xí nghiệp Than 45 (nay là Công ty TNHH MTV 45, thuộc Tổng Công ty Đông Bắc), được cho đi đào tạo nghề theo cách “cấp tốc” 3 tháng ở trường dạy nghề Hồng Cẩm, rồi về vừa làm vừa học thêm 6 tháng nữa ngay tại xí nghiệp do các thầy ở Trường dạy nghề Hữu Nghị dạy (Hồng Cẩm, Hữu Nghị - các trường dạy nghề thuộc Vinacomin), theo lối “cầm tay chỉ việc” và đạt được bậc thợ 3/6. Hậu bảo, do sau về quê lấy vợ, đưa vợ ra, không có công ăn việc làm; muốn mở quán bán hàng, vùng đèo Hạ My không bán được cho ai, nên mới quyết định chuyển về làm thợ ở Xí nghiệp Than Cẩm Thành, từ năm 2006 (vợ giờ bán hàng hoa quả ở một cổng chợ trong TP Cẩm Phả).
Mỗi người vào nghề có các xuất phát điểm khác nhau, như Lợi, có thể nói là thuận, đang là phổ biến lớp trẻ hiện nay, học xong phổ thông, xin đi học nghề. Còn với Lương, tôi biết cậu ta có ông anh đang là thợ khoan địa chất nên hỏi, sao không nhờ anh xin đi học làm thợ khoan, một nghề không quá nặng nhọc như nghề thợ lò? Lương bảo, chẳng biết nữa, lúc ấy nghe bạn bè rủ đi học làm lò, thì đi, “-Cứ như là duyên nợ ấy mà! Chả nghĩ đến xin đi học thợ khoan”. Còn Hậu, Hậu tự hào có bề dày thời gian làm nghề, “thời làm than thổ phỉ biết được khối việc làm trong lò, do đó mà có thêm kinh nghiệm đi lò, làm lò”.
Bây giờ Lợi, Lương, Hậu đều là thợ lò bậc 6 - bậc thợ tột bậc của nghề. Thành tích làm nghề của họ khác nhau, song ai cũng có cống hiến. Hậu có lẽ là giàu thành tích nhất: Chiến sĩ thi đua cấp Công ty 2007 - 2009; Chiến sĩ thi đua cấp Tập đoàn (Vinacomin) 2009; Bằng khen Bộ Công thương 2010; Thợ giỏi xuất sắc cấp Công ty 2006 - 2009; Thợ giỏi xuất sắc cấp Tập đoàn 2009; Danh hiệu “Người thợ trẻ giỏi” tỉnh Quảng Ninh 2010; anh còn là 1 trong 80 gương mặt “Người thợ trẻ giỏi” toàn quốc 2011 - một danh hiệu do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Dạy nghề Việt Nam tôn vinh.
Làm nghề mà giỏi như thế, để thấy, môi trường làm việc ở các Xí nghiệp Than Khe Tam, Cẩm Thành của Công ty TNHH MTV Than Hạ Long là những nơi đắc địa để họ hành nghề, giỏi nghề.
Lợi, sau khi làm nghề, đã hướng người em ruột của mình theo nghề, xin em ra học ở Trường Hồng Cẩm theo tiêu chuẩn của Xí nghiệp. Người em của Lợi hiện đang làm thợ lò ở Than Cẩm Thành.
Hậu, vừa làm nghề, vừa giúp không chỉ 1, mà tới 2 người em họ. Hiện họ đang làm việc cùng xí nghiệp với Hậu. Hậu giới thiệu, hướng dẫn các em đi học nghề, theo nghề, trong đó có 1 người được vợ chồng anh giúp đỡ kể từ lúc ăn học đến khi thành nghề.
Hậu, Lương, Lợi đều là những người thợ chăm chỉ làm việc. Họ luôn đi làm đảm bảo đủ ngày công, nhiều tháng còn vượt, nhất là những tháng cao điểm, thi đua. “Đợt cao điểm, thi đua, có tháng em đi làm đạt tới 29 công; còn thường, 26, 27 công” - Hậu nói. Vào lò là làm việc, làm miệt mài. Ra khỏi lò về nhà nghỉ ngơi, để chuẩn bị sức đi làm tiếp, không ham hố chơi bời. Vì thế họ đã để dành được tiền từ công sức mồ hôi, nước mắt mình bỏ ra, gom góp nhiều năm, mua được đất, làm được nhà.
Lương mua lại được 1 gian, rộng khoảng 50m2, của một gia đình làm nghề bưu điện, ở khu tập thể bưu điện (cũ), phường Cẩm Tây, TP Cẩm Phả, từ năm 1996, với giá 25 triệu đồng. Năm 1998, lấy vợ. Do biết nghề thợ xây, năm 2003, Lương xin nghỉ 2 phép, cùng vợ xây lại nhà. “Mình xây, vợ nháo vữa. Lúc ấy vợ đang có chửa đứa thứ hai...”.
Lợi mua được đất năm 2006, 96m2, 60 triệu đồng, cũng ở Cẩm Phả. Lợi lấy vợ năm 2003. Năm 2007 thì xây được nhà, 1 tầng, mái bằng, gác xép, hết 150 triệu đồng. “Hồi năm 2006, bọn em làm được tiền lắm. Lương 5-6 triệu đồng một tháng. Tính ra, có thể mua được 3-4 chỉ vàng”.
Còn Hậu, tha lôi vợ con ra sống cùng mình, từ chỗ không có gì, nay Hậu đã có nhà riêng trên mảnh đất rộng hơn 70m2. Cái quý của anh, trên mảnh đất ấy, anh xây thêm một nhà rộng chừng 15m2, dành để cho 2 người em họ, cùng là thợ lò ở. Vợ anh cơm nước cho tất cả mọi người.
Tôi hỏi các anh về nghề thợ lò. Hậu bảo, anh còn hăng hái, chưa thấy sự mệt nhọc, “thấy nghề thợ lò hợp với mình, mình phát huy được niềm say mê”.
Với Lương, anh bảo đã mệt. “Trước mình đã làm nghề xây dựng rồi. Vất vả, nặng nhọc, gian khổ thế nào, đã biết. Nhưng quả là nghề xây dựng chưa thấm vào đâu so với nghề thợ lò. Nghề thợ lò quá vất vả”.
Còn Lợi, cũng như Lương, đã mệt. “Cường độ làm việc trong lò lớn lắm. Trước mình làm phăng phăng, nay thấy yếu hẳn. Thảng hoặc đã có ý nghĩ bất chợt ngại vào lò. Giá chuyển được ra ngoài mặt bằng, làm công việc gì đó vẫn liên quan đến nghề thợ lò, thì tốt”.
Trần Giang Nam