Tại Quảng Ninh, việc đổi mới, sáng tạo, số hoá nông nghiệp từ khâu sản xuất trực tiếp, đến khâu quản lý đã sớm được tỉnh chỉ đạo, triển khai, tạo những hành lang pháp lý để hiện thực hoá. Đến nay, bức tranh chuyển đổi số nông nghiệp Quảng Ninh đã có những điểm sáng nhất định.
Giám sát sâu rầy thông minh
Sau 24h, nhiều loại côn trùng, sâu, bọ xuất hiện trên cánh đồng lúa rộng 26ha của Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh đã được ghi nhận, phân tích, đánh giá về chủng loại, số lượng, đưa ra thông số so sánh với thời điểm trước đó và dự đoán tình hình trong giai đoạn tiếp theo. Những dữ liệu này có được là nhờ vào hệ thống giám sát sâu rầy thông minh mà phường Đông Triều đang triển khai.
Kế thừa dự án KHCN thí điểm dành cho nông nghiệp của thành phố Đông Triều trước đây, hiện hệ thống giám sát sâu rầy thông minh đang được phường Đông Triều tiếp tục vận hành. Cơ chế vận hành của hệ thống là sự kết nối thông minh và tự động của các thiết bị thu hút, thu thập sâu rầy, đếm số lượng, phân biệt chủng loại và tự động đưa ra báo cáo đánh giá, nhận định, gửi về hệ thống máy chủ và mạng LAN đã được cấp quyền truy cập và chia sẻ.
Hiện nay, phường Đông Triều đang lấy kết quả đánh giá từ hệ thống giám sát sâu rầy thông minh làm một trong những căn cứ, cơ sở, kết hợp với khảo sát, đánh giá thực địa để đưa ra các khuyến cáo về thời tiết và tình hình dịch hại trên cây trồng cho nông dân. Theo đánh giá của phường Đông Triều, điểm đáng chú ý của dự án này là hệ thống ghi nhận trên cây lúa, nhưng thực chất phân tích, đánh giá được 4 chủng sâu rầy đối với cây lúa, rau, màu và cây ăn quả. Đáng nói là những thông số hệ thống đưa ra đều phân tích tự động trên cơ sở dữ liệu hệ thống tự thu thập khiến cho gia tăng tính tin cậy cao.
Chuyển dịch từ nông nghiệp giản đơn sang công nghệ cao
Hệ thống giám sát sâu rầy thông minh đang là một trong nhiều ứng dụng số đối với sản xuất nông nghiệp ở Quảng Ninh. Từ nhiều năm qua, ngành nông nghiệp Quảng Ninh đang dần chuyển dịch từ sản xuất đơn giản, phụ thuộc vào sức người và thiên nhiên, sang gắn với ứng dụng thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến và quản lý trình độ cao. Biểu hiện của sự chuyển dịch này là các hoạt động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ lợi và khai thác, nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh đều chứa đựng hàm lượng KHCN cao.
Có thể thấy trên 7.500ha tôm nuôi của Quảng Ninh hiện nay là nuôi công nghiệp. Trong đó có nhiều mô hình tôm nuôi trong nhà, có mái che, có sử dụng máy tạo oxy và các thiết bị phục vụ quản lý môi trường nuôi, có các hệ thống cấp, thoát nước riêng biệt. Một số mô hình nuôi, mức độ công nghệ cao đã đạt ở việc quy trình nuôi khép kín, quá trình sản xuất được số hóa, sử dụng công nghệ vi sinh để xử lý chất thải, ứng dụng công nghệ nano bạc để xử lý chất lượng nước, sử dụng thảo mộc để bồi bổ, tăng sức đề kháng cho vật nuôi, cho ăn tự động bằng cảm biến, cảnh báo môi trường bằng trí tuệ nhân tạo (AI), nuôi tuần hoàn khép kín (RAS) và kiểm soát môi trường ao nuôi thông qua cảm biến kết nối Internet vạn vật (IoT)…
Quảng Ninh có hơn 20 hồ, đập lớn thì gần như toàn bộ đã được lắp đặt hệ thống đo mưa tự động, 6 hồ có van xả đã ứng dụng hệ thống cảnh báo sớm. Ông Vũ Mạnh Huy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuỷ lợi, cho biết: Với những thiết bị này, hệ thống quản lý nhanh chóng nhận biết các thông tin về mực nước thượng lưu, hạ lưu, lượng mưa trong lưu vực, thời điểm xả nước đệm để tạo tính sẵn sàng của hồ đập, công tác cảnh báo lũ để tránh nguy cơ sự cố hồ đập và gây nguy hiểm cho vùng dân cư…
Trong lâm nghiệp, hiện những thiết bị bay được sử dụng rộng rãi để quan sát tổng thể diện tích rừng, giúp xác định chính xác ranh giới, diện tích và hiện trạng rừng, theo dõi sinh trưởng của cây, phát hiện cây chết, cây sinh trưởng kém, nhận diện dấu hiệu sâu bệnh, hay tác động xâm hại rừng. Hệ thống cảnh báo cháy rừng tự động cũng đã được ứng dụng trên nhiều diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng, góp phần không nhỏ trong việc cảnh báo cháy rừng.
Tiếp tục mục tiêu số hoá nông nghiệp, hiện nay Quảng Ninh đang chỉ đạo nhân rộng những mô hình nông nghiệp công nghệ cao, trong đó gia tăng hàm lượng KHCN, số hoá và trí tuệ nhân tạo vào sản xuất. Ngành cũng đang đẩy mạnh xây dựng các hệ thống giám sát tự động về dinh dưỡng, về truy xuất nguồn gốc, xây dựng bản đồ nông hoá thổ nhưỡng và đặc biệt là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ngành.
Ông Nguyễn Khắc Dũng, Phó Giám đốc Sở NN&MT, khẳng định: Theo lộ trình phát triển, hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành sẽ bao phủ các lĩnh vực trọng yếu như đất đai, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, môi trường, lâm nghiệp, thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi, thủy lợi… Qua đó, từng bước định hình hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước theo hướng hiện đại, lấy dữ liệu làm nền tảng.