Vào những ngày này, hàng nghìn cô tú, cậu tú đang háo hức chuẩn bị hành trang cho kỳ thi đại học. Tuy nhiên, có không ít người mang theo tâm trạng băn khoăn, lo lắng… Bởi, để lựa chọn được một ngành, nghề phù hợp với khả năng và điều kiện không phải là việc dễ dàng, khi có quá nhiều phương án để lựa chọn, trong khi lại thiếu các thông tin cần thiết…
Học sinh Trường THCS Lý Tử Trọng đọc sách trong thư viện.
Không phải đến thời điểm này, công tác hướng nghiệp-tư vấn nghề mới được đề cập, nhắc đến mà trên thực tế đã được ngành GD-ĐT để tâm từ nhiều năm trước… Nếu như trước kia, công tác hướng nghiệp chỉ được lồng ghép trong chương trình dạy nghề phổ thông cho các đối tượng là học sinh THCS và THPT, thì từ năm 2000, hoạt động này đã được tăng cường triển khai thêm trong các buổi sinh hoạt ngoại khoá của học sinh THCS. Đặc biệt, từ năm học 2006-2007, công tác hướng nghiệp đã được đưa vào chương trình ngoại khoá bắt buộc của bậc THPT với thời lượng 3 tiết/tháng… Cùng với những động thái tích cực này từ phía ngành GD-ĐT, một số ban, ngành có liên quan như Sở LĐ TB&XH, Trung tâm Giới thiệu việc làm của tỉnh, các trường ĐH, TCCN trên địa bàn cũng đã vào cuộc. Các trường ĐH, CĐ, TCCN dạy nghề thì chủ động quảng bá ngành, nghề đào tạo của mình thông qua hình thức gửi tờ rơi đến các trường THPT. Các trường THPT trên địa bàn tỉnh thường xuyên mời chuyên viên Sở LĐ TB&XH đến nói chuyện với học sinh về vấn đề lao động, việc làm; dán thông tin, áp phích giới thiệu ngành nghề đào tạo của một số trường ĐH, CĐ, TCCN và dạy nghề; thông tin về điểm sàn, tỷ lệ chọi, điểm chuẩn của các trường trong kỳ tuyển sinh trước đó. Trung tâm Giới thiệu việc làm của tỉnh từ năm 2005 đã chủ động phối hợp với Sở GD-ĐT thực hiện chương trình tư vấn định hướng nghề cho học sinh lớp 12 và sinh viên năm cuối của các trường TCCN, dạy nghề. Từ đầu năm học 2006-2007 đến nay, Trung tâm đã tiến hành tư vấn định hướng nghề cho 3.800 học sinh lớp 12 của 7 trường THPT trên địa bàn tỉnh. Không chỉ chủ động tìm đến đối tượng cần tư vấn là học sinh các trường THPT, TCCN và dạy nghề trên địa bàn tỉnh, Trung tâm còn duy trì hoạt động thường xuyên của Phòng tư vấn (thực hiện tư vấn nghề, định hướng nghề, tổ chức các phiên chợ việc làm) cho những lao động, người dân có nhu cầu, mở các phiên chợ việc làm 2 lần/năm…
Mặc dù đã được triển khai tích cực hơn so với thời gian trước, nhưng công tác tư vấn-định hướng nghề vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn. Số học sinh đăng ký dự thi vào các trường ĐH, CĐ hàng năm vẫn rất đông. Trong khi đó, các trường TCCN và dạy nghề thì lại luôn “vỡ kế hoạch” tuyển sinh. Theo báo cáo của Sở GD-ĐT, năm 2006, toàn tỉnh có 29.620 lượt thí sinh ĐKDT vào ĐH, CĐ, TCCN. Trong đó, số lượt thí sinh ĐKDT vào ĐH, CĐ là 27.085 lượt (trong số đó có không ít hồ sơ dự thi là của những thí sinh trượt trong các kỳ thi ĐH từ những năm trước), còn TCCN và dạy nghề chỉ có 2.535 lượt. Tuy vậy, số thí sinh đỗ ĐH, CĐ lại chỉ chiếm 13,9%. So với kết quả trúng tuyển của năm 2005, số thí sinh đỗ ĐH, CĐ trong tỉnh đã tăng lên 589 thí sinh. Tuy nhiên, con số này vẫn khiến nhiều người không vui. Bởi lẽ, hiện nay mạng lưới các trường ĐH, CĐ với nhiều ngành nghề đào tạo mới trong cả nước được mở rộng, điểm tuyển vào lại thấp… Các thí sinh có nhiều cơ hội trúng tuyển hơn. Bên cạnh đó, số thí sinh tuyển thẳng, cử tuyển của tỉnh năm 2006 cao hơn so với năm 2005 (trong số 4.076 thí sinh trúng tuyển vào 144 trường ĐH, CĐ trên toàn quốc có 4.016 thí sinh trúng tuyển qua thi, 22 thí sinh trong diện tuyển thẳng và 38 thí sinh cử tuyển). Việc đổ xô vào thi đại học, bỏ qua các trường TCCN và dạy nghề đã tạo nên sự mất cân đối trầm trọng trong cơ cấu ngành nghề đào tạo. Thực tế là nhiều sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ đã phải tham gia các lớp đào tạo bổ sung để tìm kiếm việc làm. Kết quả điều tra lao động việc làm năm 2006 cho thấy: Tỷ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp các chương trình đào tạo nghề là 1,39%, TCCN là 2,72%, tốt nghiệp CĐ là 3,41%, ĐH là 3,61%.
“Rào cản” cần tháo gỡ
Những con số trên đã minh chứng rõ, học sinh THPT hiện thường chọn trường trước khi chọn nghề. Nguyên nhân của tình trạng này là do phần lớn các em thiếu thông tin về thị trường lao động, thiếu sự tư vấn, hoặc không được gia đình, nhà trường tư vấn đầy đủ. Vì vậy các em thường chọn trường, khối thi theo cảm tính, mà không tính đến trình độ, thực lực của mình, nhu cầu sử dụng lao động của xã hội. Không ít thí sinh thi đại học theo ý muốn của gia đình, cha mẹ. Theo kết quả điều tra khảo sát về nhu cầu tìm kiếm việc làm của Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh, học sinh, phụ huynh và những người lao động đều có chung tâm lý, nguyện vọng sau khi tốt nghiệp ra trường được làm việc trong các cơ quan nhà nước (70% trong tổng số người được hỏi có nhu cầu này); muốn có thu nhập cao, nhàn hạ, có địa vị trong xã hội; muốn có vị thế và có nghề được coi là “mốt” trong xã hội; muốn làm việc ở gần nơi cư trú; muốn sống và làm việc ở các đô thị lớn (80% số người được hỏi có nhu cầu này)… Chính bởi vậy mà có đến 90% số học sinh tốt nghiệp THPT thi vào các trường ĐH, CĐ trong khi nhu cầu lao động thực chỉ gần 24%. Các em chủ yếu dự thi vào các chuyên ngành như: Kinh tế, quản trị doanh nghiệp, kế toán, luật, văn thư lưu trữ…
Việc học sinh tốt nghiệp THPT đổ xô vào các trường ĐH, CĐ mà không mặn mà với các trường TCCN, dạy nghề còn xuất phát từ một nguyên nhân khá quan trọng khác nữa. Đó là, chất lượng của các trường TCCN, dạy nghề hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, không đủ sức hút đối với học sinh. Qua tìm hiểu thực tế tại các trường TCCN và dạy nghề trên địa bàn tỉnh cho thấy, kinh phí hàng năm nhà nước đầu tư cho các trường này quá thấp so với nhu cầu thực tế (năm 2006 là 37,6 tỷ đồng, giảm 3,21% so với năm 2005 - số liệu Sở LĐTBXH). “Đầu tư, phát triển các trường TCCN, dạy nghề không chỉ đơn thuần là xây dựng phòng học, tìm kiếm giáo viên” - Ông Vũ Xuân Hoài, Phó trưởng Phòng Quản lý đào tạo nghề, Sở LĐ TB&XH cho biết:- “Các trường TCCN và dạy nghề đòi hỏi được đầu tư rất lớn về cơ sở vật chất không chỉ phục vụ cho công tác giảng dạy lý thuyết mà cả thực hành. Hiện nay, hầu hết các trường TCCN và dạy nghề trên địa bàn tỉnh đều rơi vào tình trạng cơ sở vật chất không được đầu tư đồng bộ, thường phải chạy theo công nghệ mới, thiếu nguyên liệu để học sinh được thực hành… Điều đó cũng phần nào lý giải được vấn đề chất lượng của các trường chưa đáp ứng được thực tế”.
Những nguyên nhân kể trên đã tạo ra những “rào cản” rất lớn khiến cho công tác hướng nghiệp-tư vấn nghề thiếu tính hiệu quả, tất yếu dẫn đến mất cân đối giữa cung - cầu trong lao động. Trên thực tế hiện nay ở Quảng Ninh có rất nhiều ngành, nghề thiếu lao động như: Kỹ sư xây dựng; kỹ sư cơ khí chế tạo máy tàu, vỏ tàu; công nhân kỹ thuật (CNKT) cầu đường; CNKT hàn… nhưng cũng có khá nhiều ngành, nghề thừa lao động như: Luật, quản trị kinh doanh, xã hội học, văn thư lưu trữ… Để giải quyết được vòng luẩn quẩn này, quan trọng nhất là các cơ quan hữu quan cần tìm ra cách làm mới để công tác hướng nghiệp-tư vấn nghề đối với học sinh hiệu quả hơn. Công tác hướng nghiệp-tư vấn nghề cần được làm thường xuyên, liên tục với các hình thức tổ chức phong phú, hấp dẫn; cần tạo điều kiện để học sinh tiếp cận thông tin về nhu cầu lao động, các nghề, nhóm nghề trọng điểm của tỉnh ngay từ những lớp đầu cấp; cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và các trung tâm giới thiệu việc làm. Các trường TCCN, dạy nghề cần được đầu tư đồng bộ củng cố cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đào tạo thông qua ngân sách nhà nước và xã hội hoá…
| Những thông tin cần biết I. Các nghề và nhóm nghề trọng điểm của tỉnh 1. Khai khoáng: Vận hành các thiết bị phục vụ khai khoáng, khai thác mỏ. 2. Cơ khí chế tạo lắp ráp công nghệ đóng tàu. 3. Vận hành sửa chữa thiết bị điện, điện tử, điều khiển tự động công nghiệp và kỹ thuật số. 4. Điện tử, xử lý thông tin công nghệ cao. 5. Sản xuất vật liệu xây dựng chất lượng cao, sản xuất xi măng, vật liệu mới, gốm, sứ. 6. Vận hành các thiết bị cơ giới xây dựng, bốc xếp, vận chuyển thiết bị cảng, kho bãi, container, các thiết bị xây dựng. 7. Nuôi trồng thuỷ sản, chế biến và bảo quản thực phẩm, hải sản, sản phẩm nông lâm nghiệp. 8. Du lịch dịch vụ. 9. Thủ công mỹ nghệ. II. Dự án các khu công nghiệp (KCN) và đầu tư nước ngoài 1. KCN than-khoáng sản: Có trên 20 công ty, hàng năm cần tuyển khoảng 5.500-5700 lao động các ngành nghề kỹ thuật. 2. KCN Đông Triều: Có trên 40 doanh nghiệp, cần tuyển từ 2.000- 2.500 lao động. 3. KCN Uông Bí: Công ty Chế tạo thiết bị mỏ than Việt Quý cần tuyển 130 lao động; Công ty Sao Vàng cần tuyển 1.800 lao động. 4. KCN Cái Lân: Thu hút 40 doanh nghiệp gồm các ngành nghề: Chế biến dăm gỗ; nến thơm, sản phẩm nhựa, thép xuất khẩu… cần tuyển trên 2.000 lao động. 5. KCN Hoành Bồ: Gồm nhiệt điện, xi măng, cần tuyển trên 2.000 lao động. 6. KCN Cẩm Phả: Gồm nhiệt điện, xi măng, cần tuyển 1.500 lao động. 7. KCN tổng hợp Vân Đồn thu hút 1.000 đến 1.500 lao động. 8. KCN Móng Cái: Có trên 50 doanh nghiệp cần tuyển 1.000-1.200 lao động. III. Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực đến năm 2007 và 2010 1. Tổng số lao động theo nhu cầu cho năm 2007 là 596.370 người (chủ yếu là kỹ sư xây dựng, kiến trúc, giao thông, các công trình thuỷ lợi, thuỷ sản; kỹ sư máy tàu, vỏ tàu, cầu đường, cơ khí, cơ khí- chế tạo; khai thác mỏ-hầm lò, CNKT, ngoại ngữ tiếng Trung, Nhật 2. Tổng số lao động theo nhu cầu cho năm 2010 là 649.000 người. (Nguồn: Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh) |