Kỷ niệm một chuyến đi

Màn đêm bao trùm vùng biển Đồ Sơn (Hải Phòng). Một con tàu vỏ sắt lầm lũi rời bến. Không một hồi còi báo hiệu. Ngọn đèn biển Long Châu vẫn lập loè tín hiệu và có lẽ chỉ có nó chứng kiến cảnh ra đi của con tàu không số này. Thuyền trưởng Tư Nguyên (nguyên là Thuyền trưởng tàu Việt - Xô chuyển sang) điềm tĩnh cầm lái hướng con tàu về phía cửa biển. Chính trị viên Chín Phước (tức Lê Hùng Phước) vừa tỉ mỉ đi kiểm tra tàu trở về ca bin. Trong khoang buồng ngủ, báo vụ viên “Chung còm” ôm chiếc radio, chỉnh cho rõ tiếng phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo: -Ngụy quyền Sài Gòn đã tử hình anh Nguyễn Văn Trỗi!

Đó là ngày 15-4-1964...

Ngày ấy, trên con tàu ấy, anh lính trẻ Vũ Đăng Khoa (nay là CCB, thường trú tại phường Bạch Đằng, TP Hạ Long) cũng có mặt. Ông bảo, đó là kỷ niệm đầu tiên của tôi ở con tàu T67, Đoàn 125 vận chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam mà sau này được gọi là Đoàn tàu không số.

“-Số hiệu ấy của tàu là trước khi xuất phát!” - Ông nói - "Còn ngay khi rời bến, từ tên tàu đến mọi đồ dùng, vật dụng, quần áo, trang bị v.v... thậm chí cả vỏ bao, đầu mẩu thuốc lá Tam Đảo, Trường Sơn, nghĩa là mọi dấu tích của miền Bắc, đều phải được xoá sạch…".

T67 có nhiệm vụ vận chuyển 70T vũ khí vào trả hàng tại Bến Tre. Biên chế của tàu có 16 người, gồm thuyền trưởng Tư Nguyên, người Cần Thơ, cao tuổi nhất tàu, đã có gia đình ở Hải Phòng. Chính trị viên Chín Phước thì vợ con đang sống ở miền Nam. Máy trưởng Hoàng Anh Dũng, người gốc Sài Gòn, mới 35 tuổi, học máy trưởng ở Cục đường biển, mới có người yêu ở Hải Phòng. Thuyền phó Hoàng Đình Chung, quê gốc Phước Long (Vĩnh Long). Thuỷ thủ trưởng Năm Báu, thuỷ thủ Sáu Sơn, quê Bến Tre và báo vụ viên "Chung còm" cũng là người miền Nam. Còn lại 7 người nữa, trong đó có ông Khoa, là dân miền Bắc, ở rải rác 6 tỉnh.

Ngày ra đi của T67 biển động, giông cơn thay nhau kéo đến. Con tàu nhỏ không đủ sức mạnh đè sóng mà đi. Chúng tôi được lệnh đỗ nhờ một cảng của Trung Quốc. Tại đây chúng tôi gặp tàu T54 và T60, do các thuyền trưởng Nguyễn Hữu Phước và thuyền trưởng Củng phụ trách. Đợi cho dứt cơn bão, ngày 29-10-1964, T67 lại lên đường. Tàu nhỏ, sóng lớn khiến nhiều thuỷ thủ say sóng liêu xiêu. Riêng tôi sóng "kiềng" mặt nên nhiều ngày tôi đã xung phong trực 2 ca liền, cố nấu được bát cháo cho anh em húp, hồi sức. Hơn một tuần trên biển, thuyền trưởng Tư Nguyên đưa T67 vào đến vùng biển Trà Vinh - Bến Tre. Lệnh đưa ra "quản chế đèn lửa". Con tàu trườn đi trong đêm tối. Trời vẫn nổi dông cơn, sóng to vật vã. Vào gần bờ, tàu chao đảo, vướng vào lưới đánh cá nơi cửa sông. Tôi và thủy thủ Trần Văn Hữu được lệnh dùng sào đo nước báo cho thuyền trưởng. Tàu đã rơi vào vùng nhiều đá ngầm và cố tăng tốc vượt qua được hai lần chớm cạn, nhưng đến lần thứ ba thì bị mắc cạn, không xê dịch được nữa. (Về sau chúng tôi được biết địa danh T67 mắc cạn là Cồn Lớn, thuộc địa phận xã Thạnh Phú, Bến Tre). Còn cách xa bờ nên không nhận được tín hiệu của "Bến". Nếu không vào được bờ, chui vào kênh rạch để trả hàng và che mắt địch thì nguy cơ bị lộ là rất dễ xảy ra. Nhưng nếu "án binh bất động" tại đây thì sáng mai phải đối mặt với địch, liệu có đảm bảo bí mật của con đường huyết mạch này? Đã 3 giờ sáng, chi bộ tàu họp khẩn cấp. Bí thư Chín Phước sau khi hội ý cấp uỷ, đưa ra quyết định: Cho anh em lên bờ bắt liên lạc với Bến, chỉ có chính trị viên Chín Phước, máy trưởng Hoàng Anh Dũng và một người nữa ở lại tàu. Nếu thuỷ triều lên, tìm cách đưa tàu thoát cạn. Tình huống bị lộ, sẽ chiến đấu đến cùng rồi huỷ tàu. Không một phút suy nghĩ, đắn đo, tôi giơ tay xung phong ở lại!

Quyết định được thực hiện ngay. Ai lên bờ chuẩn bị tài liệu, tư trang rời tàu. Khoa và Hữu đưa xuồng nhỏ xuống nước, đưa người vào bờ. Trời sáng dần, đã nhìn thấy hàng dừa xanh nơi xóm làng, đồn Trà Vinh đã hiện rõ tháp canh, đây là vùng giáp ranh giữa ta và địch. Để nghi trang, Khoa được lệnh của chính trị viên Chín Phước treo cờ "ba que" của địch lên cột cờ tàu. Lưới đánh cá được mang ra phơi để đóng giả tàu đánh cá mắc cạn. Khoảng 8 giờ sáng, một tốp máy bay 5 chiếc từ xa lao tới. Chúng lượn quanh vài vòng, nhòm ngó rồi bay về phía làng Thạnh Phú trút bom. Buổi trưa có một tàu tuần tiễu của quân ngụy chạy qua cửa sông; chúng nghi vấn nên thả một chiếc xuồng chở một tốp lính mặc áo phao đỏ, súng ống đầy người, lao vào bờ. Tốp lính lội bì bõm trong bùn để tới con tàu đang bị mắc cạn khả nghi. Tôi được lệnh về phía đuôi tàu, nơi có khẩu 12,7 đang ngụy trang, chờ lệnh. Còn chính trị viên Chín Phước vẫn ở ca bin, bên cạnh có khẩu đại liên Kalinốp. Máy trưởng Dũng ở trong khoang máy, súng trong tay chờ lệnh. Cách tàu vài trăm mét, có lẽ đã thấm mệt, bọn lính chắc là nản quá nên quay lại xuồng, về tàu. Hú hồn, thế là T67 thoát hiểm lần thứ hai…

Trời tối dần, có ánh đèn nhấp nháy trong bờ. Chính trị viên Chín Phước reo lên: Có tín hiệu của Bến! Thế là thuyền trưởng Tư Nguyên đã liên lạc được với các đồng chí của ta. Hàng trăm người là bộ đội địa phương, du kích, đồng bào, đồng chí và các chiến sĩ của T67, đã vận chuyển hết số vũ khí vào bờ, giấu ở một nghĩa địa xa làng.

Là vùng giáp ranh, cảnh giác không thừa. Tôi và Hữu, Phụng (người Đồ Sơn, Hải Phòng) được lệnh đào công sự sẵn sang chiến đấu bảo vệ hàng. Lội bùn, vác nặng, mệt. Cả ba chỉ còn một hộp sữa đặc, lại không có nước, khát khô cả họng, chẳng ai nuốt nổi. Đến khuya thì bàn giao xong hàng cho Bến. Nhiệm vụ đã hoàn thành, nhưng còn con tàu? Nhận được lệnh của trên, chúng tôi tháo tất cả bộ phận máy tàu có thể tháo được, rồi rời con tàu thân yêu. Một tiếng nổ của hàng tấn thuốc nổ xoá sạch dấu tích của con tàu vỏ sắt. T67 đã đi vào lịch sử truyền thống của Đoàn tàu không số - Đoàn 125 Anh hùng…

Sau chuyến đi này, tôi đã được mọi người bình chọn để đề nghị Bộ Quốc phòng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Một tháng sau chúng tôi theo con tàu T54 trở ra miền Bắc tiếp tục công tác…

Sau chuyến đi này, năm 1965, Vũ Đăng Khoa còn có vinh dự đi cùng tàu T235 của thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh, Anh hùng quân đội, tiếp tục vận chuyển vũ khí cho miền Nam. Năm 1966, ông lại tiếp tục đi cùng tàu với thuyền trưởng Võ Hán… Cuộc đời binh nghiệp của ông còn có dịp đi cùng tàu T246 đánh chặn tụi biệt kích đổ bộ vào Quảng Bình hòng chi viện cho lính ngụy đang sa lầy ở Đường 9 - Nam Lào. Ở T246, Vũ Đăng Khoa lại thể hiện tinh thần dũng cảm khi giữa biển khơi giông gió, dây cáp bị quấn vào chân vịt, tàu trôi tự do, có khả năng va vào đá ngầm và Khoa đã nhảy xuống biển tháo gỡ được dây cáp để tàu tiếp tục làm nhiệm vụ. Ban chỉ huy điện về Đoàn 125 đề nghị cấp trên khen thưởng cho Khoa...

Hai lần được đề nghị khen thưởng, nhưng cả hai lần đều không nhận được quyết định bởi hồ sơ bị "mắc cạn" đâu đó, nhưng Vũ Đăng Khoa không lấy làm buồn! Ông bảo, người lính chỉ biết hoàn thành nhiệm vụ được giao, còn việc có được khen thưởng hay không là… công việc của cấp trên(!).

10 năm trong quân ngũ, bị thương, yếu sức khoẻ, ông Khoa lại trở về làm người thợ ở XN Vật tư Hòn Gai. Nhưng còn một điều không may cho ông nữa là hồ sơ quân nhân chuyển theo đường bưu điện bị thất lạc, nên ông đã không được hưởng chế độ thương binh bao nhiêu năm trời. Và 30 năm sau, năm 2001, Bộ Tư lệnh Hải quân lần đầu tổ chức cuộc hội ngộ của những người ở Hải Phòng đã từng công tác tại Đoàn 125 anh hùng cũng không có tên ông. Ông phải về Hải Phòng, rồi lặn lội vào Nam, tìm đến những đồng đội xưa, để lấy chữ ký, tất cả 24 người mà ông gặp lại được đều xác nhận Khoa là lính đoàn tàu không số gửi lên Tỉnh uỷ Quảng Ninh. Tỉnh uỷ Bến Tre lục hồ sơ cũ cũng xác nhận Khoa có mặt trên T67 mắc cạn tại Thạnh Phú. Bộ Tư lệnh Hải quân tìm lại báo cáo của Đoàn 125 về việc đề nghị khen thưởng cho Vũ Đăng Khoa. Trung tướng Đỗ Xuân Công Nguyên, Tư lệnh Hải quân đã thưởng kỷ niệm chương cho Vũ Xuân Khoa… Và đặc biệt, với những tư liệu đã có, Bộ Quốc Phòng đã đề nghị Nhà nước thưởng Huân chương Chiến công cho Vũ Đăng Khoa. Mừng vui ngày nhận Huân chương, ông Khoa trào nước mắt, cám ơn Đảng và Nhà nước đã không quên đóng góp nhỏ bé của ông, một người dân TP Hạ Long trong "Đoàn tàu không số" trên "Đường Hồ Chí Minh trên biển" huyền thoại…

Nguyễn Gia Phong

Cùng chuyên mục