Quản lý hơn 43km đường biên giới với nhiều thôn, bản đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cửa khẩu Hoành Mô không chỉ canh giữ cột mốc, tuần tra biên giới mà còn là “cầu nối” gần gũi nhất với nhân dân.
Nghe dân nói, nói dân hiểu
Hoành Mô là xã biên giới đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như Dao, Tày, Sán Chay (nhóm Sán Chỉ). Không ít người dân, đặc biệt là người cao tuổi và phụ nữ vẫn còn hạn chế sử dụng tiếng phổ thông. Điều này khiến việc tiếp cận thông tin, chính sách pháp luật gặp không ít khó khăn. Việc học tiếng dân tộc đối với cán bộ, chiến sĩ không chỉ là yêu cầu nhiệm vụ, mà còn trở thành “cầu nối mềm” để gần dân, hiểu dân và củng cố “thế trận lòng dân”.
Xuất phát từ thực tế đó, những năm gần đây, Đồn đã đẩy mạnh việc học tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, chiến sĩ. Đây được xem là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tuyên truyền pháp luật và bảo vệ chủ quyền biên giới.
Qua học tiếng dân tộc, cán bộ, chiến sĩ hiểu hơn phong tục tập quán của bà con, đặc biệt có những chiến sĩ còn hiểu và hát được những bài hát then cổ, hát soóng cọ, hát pả dung cùng đồng bào. Việc này cũng giúp cán bộ biên phòng tuyên truyền, vận động bà con chấp hành tốt pháp luật, không tiếp tay vận chuyển hàng cấm hay xuất, nhập cảnh trái phép. Nhờ đó, trong 6 tháng đầu năm 2026, đơn vị đã vận động được 1.449 hộ dân cam kết chấp hành pháp luật, không tham gia, không tiếp tay cho các loại tội phạm ma túy, mua bán người, gian lận thương mại và hàng giả trên biên giới, thực hiện tốt 12 buổi tập huấn cho 20 tổ tự quản đường biên, cột mốc với 180 người tham gia, phát 1.000 tờ rơi tuyên truyền Luật Biên giới quốc gia, Luật Biên phòng Việt Nam cho nhân dân.
Chị Dường Thị Mẩy, người dân thôn Nà Choòng, xã Hoành Mô, cho biết: "Khi thấy các chú biên phòng nói được tiếng Dao, bà con trong bản chúng tôi cảm thấy rất gần gũi, thân thiết như người nhà. Có việc gì liên quan đến cuộc sống hay bảo vệ đường biên, cột mốc, chúng tôi cũng mạnh dạn trao đổi, chia sẻ với các chú hơn trước".
Việc học tiếng dân tộc đã mang lại hiệu quả rõ nét trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Thượng tá Nguyễn Thanh Hoàng, chính trị viên Đồn Biên phòng cửa khẩu Hoành Mô, cho biết: “Từ năm 2020 đến nay, đơn vị đã tổ chức 3 lớp học tiếng dân tộc và 3 lớp tiếng Trung Quốc cho cán bộ, chiến sĩ. Việc học tiếng dân tộc giúp cán bộ biên phòng hiểu phong tục tập quán, gần dân hơn, từ đó công tác tuyên truyền, vận động đạt hiệu quả cao hơn. Khi cán bộ biên phòng có thể giao tiếp bằng tiếng bản địa, người dân cũng cởi mở và tin tưởng hơn”.
Đơn vị cũng đưa tiêu chí học tiếng dân tộc vào đánh giá cán bộ hằng năm và tiếp tục phối hợp với các trường học, chính quyền địa phương để dạy tiếng dân tộc, đồng thời khuyến khích các đồn biên phòng chủ động tổ chức các lớp học phù hợp với đặc điểm địa bàn. Không chỉ dạy tiếng dân tộc, đơn vị còn mở lớp dạy tiếng Trung cho cán bộ, công chức, học sinh và nhân dân trong xã vào đầu năm 2026.
Thực tế cho thấy, khi cán bộ biên phòng biết “nghe dân nói, nói dân hiểu”, hiệu quả công tác dân vận, tuyên truyền pháp luật cũng được nâng lên rõ rệt. Tiếng dân tộc vì thế không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn trở thành sợi dây gắn kết tình quân dân nơi biên cương. Khi cán bộ biên phòng hiểu dân, gần dân và làm dân tin, cũng là lúc “thế trận lòng dân” nơi tuyến đầu Tổ quốc được củng cố vững chắc hơn. Với những người như trung tá Vi Tiến Nghiệp, chính trị viên phó Đồn Biên phòng Cửa khẩu Hoành Mô, việc vận động quần chúng có nhiều thuận lợi bởi anh là người dân tộc Tày. Anh Nghiệp chẳng những nói tiếng Tày trôi chảy mà còn tranh thủ học được ít nhiều tiếng Dao, tiếng Sán Chỉ.
Ở Hoành Mô, bộ đội biên phòng nói ít, làm nhiều. Dân tin bộ đội thì dân làm theo. Mô hình cán bộ, đảng viên Đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt chi bộ thôn, bản càng thắt chặt sự gắn kết giữa quân và dân. Trung tá Vi Tiến Nghiệp cho biết: “Sau một năm vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, chức năng nhiệm vụ của Đồn gần như không thay đổi. Chúng tôi vẫn gắn kết chặt chẽ với chính quyền địa phương xã Hoành Mô, thực hiện các hoạt động phối hợp để tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân các dân tộc cùng tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc, góp phần giữ vững chủ quyền an ninh biên giới quốc gia”.
Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc
Chia tay bản Nà Choòng, chúng tôi lại cùng các anh xuống bản Phai Lầu thăm gia đình ông Tằng Dảu Hồng. Nhà ông Hồng có đại gia đình sống quây quần sát vách bên nhau. Tất cả đều phát triển kinh tế vườn rừng, trồng hồi, trồng quế và cấy lúa nương ở ruộng bậc thang. Nhà ông Hồng quay cửa ra dòng suối biên giới. Ngay cửa nhà là cột mốc biên giới 1323. Bởi vậy, có thể nói chính gia đình ông mới là những người canh cột mốc suốt cả ngày lẫn đêm. Cột mốc là nơi vợ ông, bà Tằng Tài Múi quét dọn sạch sẽ hàng ngày. Khuôn viên cột mốc cũng là sân phơi thóc của bà và mấy chị em dâu sau mùa gặt lúa nương.
Có xuống bản cùng chiến sĩ quân hàm xanh, tôi mới thấm thía câu nói “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào là ruột thịt”. Câu nói ấy, với đại uý Trương Ngọc Trung đúng hơn bao giờ hết. Anh Trung là người Kinh dưới xuôi lên đây đóng quân. Những ngày xuống bản làm công tác vận động quần chúng anh đã đem lòng yêu một cô giáo người Tày. Khi 2 người nên duyên chồng vợ, Trung quyết định mua đất xây nhà và định cư hẳn ở Hoành Mô. Vậy là, với Trung, Hoành Mô là nhà, đồn cũng là nhà.
Không chỉ với riêng Trung và với bất kỳ người lính quân hàm xanh nào ở đây, bà con dân bản đều là anh em họ hàng ruột thịt. Không nề hà bất cứ công việc gì, chiến sĩ biên phòng sẵn sàng xắn quần áo nhổ mạ, cấy lúa, làm vườn cùng bà con. Nhiều hộ dân khác cũng được cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ cải tạo vườn, xây nhà “Mái ấm biên cương”, làm nhà tiêu hợp vệ sinh.
Ở thôn Nà Choòng đang có những vườn cây ăn quả xanh tốt. Chỉ vài năm trước, đây còn là đồi hoang, nhờ Đồn Biên phòng hỗ trợ giống, phân bón, kỹ thuật theo mô hình “Vườn cây kiểu mẫu” nay đã xanh mướt. Chiến sĩ biên phòng không chỉ giúp cấy lúa, gặt hái mà còn tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật canh tác. Với người lính quân hàm xanh, giúp dân không phải phong trào, mà là việc thường xuyên, gắn với thực tế từng thôn bản. Qua đó cán bộ, chiến sĩ sẽ gần dân hơn, hiểu dân hơn, vun đắp tình quân dân.
Công tác vận động quần chúng không chỉ dừng ở lao động sản xuất. Đơn vị duy trì 20 tổ tự quản với hàng trăm thành viên, tổ chức hàng trăm buổi tuyên truyền pháp luật về biên giới, chống buôn lậu, xuất, nhập cảnh trái phép. Hàng ngàn lá cờ Tổ quốc và ảnh Bác Hồ được tặng đến tay bà con.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Đồn đã tổ chức tốt các hoạt động an sinh xã hội như: "Xuân biên phòng ấm lòng dân bản", "Ngày hội Biên phòng toàn dân", "Chương trình tình nguyện năm 2026", tặng 422 suất quà cho các hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và học sinh trên địa bàn xã trị giá 248 triệu đồng. Đồng thời, trao tặng 2 nhà tình nghĩa trong chương trình "Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới", khánh thành phòng học "Máy tính cho em" trị giá 300 triệu đồng, nhận đỡ đầu 13 học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong chương trình "Nâng bước em đến trường - Con nuôi đồn biên phòng".
Trong chương trình sơ kết 10 năm cụm dân cư hai bên biên giới, đơn vị phối hợp với UBND xã Hoành Mô tặng 100 suất học bổng, 50 con bò giống cho học sinh, các hộ gia đình khó khăn, cấp phát thuốc miễn phí cho 918 lượt người dân trên địa bàn.
Với dân bản, bộ đội biên phòng ở Hoành Mô như anh em ruột thịt. Mưa bão đến dựng nhà, dịch bệnh phát thuốc, hướng dẫn phòng ngừa. Có khó khăn gì cũng gọi bộ đội biên phòng. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị giúp dân sửa nhà, thu hoạch mùa màng, vận động bà con bảo vệ biên giới với phương châm “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Nhờ đó, người dân tự giác cung cấp thông tin để xử lý nhiều vụ vi phạm, góp phần giữ vững an ninh trật tự khu vực biên giới.
Cùng bộ đội biên phòng xuống bản làm dân vận, tôi không chỉ thấy những việc làm cụ thể mà còn cảm nhận được sức mạnh của “thế trận lòng dân”. Từ Phai Lầu đến Nà Choòng, Nà Sa, đâu đâu cũng in dấu chân của những người lính quân hàm xanh. Họ vừa là người lính canh giữ chủ quyền, vừa là thầy giáo, bác sĩ, kỹ thuật viên nông nghiệp, người anh, người em của bà con dân tộc. Nhân dân tin yêu bộ đội, bộ đội gần dân như cá với nước.
Trong bối cảnh địa bàn quản lý dài, phức tạp, công tác dân vận hiệu quả đã trở thành “lá chắn mềm" nhưng vô cùng chắc chắn. Đó chính là nền tảng để vùng biên giới Hoành Mô luôn bình yên, phát triển viết tiếp trang sử về tình quân dân thắm thiết, góp phần xây dựng biên cương Tổ quốc vững mạnh.