Anh là chiến sĩ tàu Không số đã anh dũng ngã xuống trong cuộc oanh tạc của máy bay địch ở một bến cảng Hải Phòng. Ngày anh hy sinh, vì không tìm thấy thi hài nên gia đình đã dựng ngôi mộ giả để hương khói suốt 40 năm qua...
Sống là “lính không số”...
Dương Thành Hiến, sinh năm 1950, quê ở xã Thành Công, TX Hòn Gai (nay là phường Cao Xanh, TP Hạ Long). Do nhà nghèo nên anh chỉ học hết lớp 7, rồi anh tình nguyện lên đường nhập ngũ. Ông Dương Mạnh Thắng, anh trai liệt sĩ Dương Thành Hiến, bùi ngùi nhớ lại: “-Ngày ấy, chú em tôi lên đường đi chiến đấu với đôi bàn chân đất. Mặc dù vậy nhưng ý chí và nghị lực thì thật hiếm có…”.
Ngày ấy nhiệm vụ của những người lính trên tàu Không số phải bí mật hoàn toàn. Vì thế, trong đợt huấn luyện, anh lính trẻ Dương Thành Hiến có trở về thăm nhà cũng không ai biết anh thuộc đơn vị nào và sẽ đi chiến đấu ở đâu. Năm 1970, hết đợt tập huấn, Dương Thành Hiến thành chiến sĩ cơ điện trên tàu T603, Đoàn tàu Không số làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Ngày 16-4-1972, máy bay Mỹ điên cuồng oanh tạc khu vực Sở Dầu - Hải Phòng. 5 tàu của Quân chủng Hải quân, trong đó có tàu T603 đang bốc hàng thì bị trúng bom. 17 đồng chí đã hy sinh tại chỗ, 2 chiến sĩ bị trọng thương sau đó cũng hy sinh. Riêng tàu T603 có 8 chiến sĩ ngã xuống, trong đó có liệt sĩ Dương Thành Hiến. Ông Nguyễn Ngọc Chức, quê ở Kiến Xương, Thái Bình, một trong ba đồng đội cùng chuyến tàu của liệt sĩ Hiến còn sống sau trận chiến, xúc động kể lại: “Đồng chí Hiến làm ở vị trí cơ điện nhưng lúc ấy lại chiến đấu ở trên boong tàu. Khi tàu bị 3 loạt bom B52, tôi ở dưới khoang máy chạy lên thấy lửa cháy cuồn cuộn, tôi lôi đồng chí Phạm Hải đang bị thương xuống, rồi cùng một đồng chí nữa nhảy xuống sông Cấm bơi ngay vào bờ. Sau đó, tàu nổ tung cùng với 200 tấn vũ khí. (Sau này, nghe Phạm Hải (bây giờ là luật sư ở Hà Nội) kể lại, trước lúc hy sinh, đồng chí Hiến đã anh dũng dùng vòi rồng cố gắng chữa cháy cho tàu…). “-Chỉ ân hận là sau trận chiến, chúng tôi chỉ tìm được thi thể của 9 đồng chí ở các tàu khác, còn lại 8 đồng chí thuộc tàu T603 của tôi thì mất tích…” - Ông Chức rầu rầu nói.
Chết là “liệt sĩ vô danh”...
Ngày ấy, bà Nguyễn Thị Minh (hiện nay ở số nhà 507, đường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng) đang làm cán bộ văn phòng Bộ Nội vụ. Trong một lần về thăm nhà, bà Minh đi ra bãi cói ven sông Cấm thì thấy có một thi thể nam thanh niên chết đã khoảng 5, 6 ngày. Trên thi thể không thấy bất cứ giấy tờ, di vật nào, chỉ thấy trên người mặc quần áo đại cán màu xám tro của bộ đội Hải quân và trên ngực áo có in hai chữ “Củ Chi”. Bà Minh cùng với một số dân quân tự vệ đã vớt thi thể lên, tắm rửa sạch sẽ, khâm liệm và mai táng ở bãi đất trống ven sông. Và mặc dù không biết ý nghĩa của từ “Củ Chi” ghi trên ngực áo người đã khuất là gì nhưng bà Minh tin chắc đó là một chiến sĩ Hải quân. Vì thế, phần mộ liệt sĩ đã được bà Minh trông nom trong nhiều năm, với tình cảm như một người chị dành cho “người em Củ Chi”… Bởi hơn ai hết, là một nữ dân quân có cha là liệt sĩ, bà thấu hiểu sự hy sinh của những người lính. Ngôi mộ ấy cũng đã nhiều lần được bà di chuyển. Khi bãi đất có phần mộ được giao cho một số doanh nghiệp, bà Minh lại mang anh về gần khu mộ của gia đình mình. Năm 2005, khu nghĩa địa này lại phải di chuyển để giải phóng mặt bằng, UBND phường Hùng Vương đã bốc mộ liệt sĩ về an táng tại nghĩa trang Cam Lộ. Người ta chỉ biết ghi lên bia mộ dòng chữ: “Anh bộ đội quê Củ Chi - thuyền viên tàu chở nguyên liệu cho miền Nam, trúng bom tại Sở Dầu ngày 16-4-1972” (Vì nghĩ là cái tên trên ngực áo chính là quê hương liệt sĩ). Đã rất nhiều lần bà Nguyễn Thị Minh đề nghị với chính quyền địa phương tìm đơn vị và thân nhân liệt sĩ nhưng mãi vẫn không được. Đầu năm 2011, khi đồng chí Vũ Xuân Hiếu về làm Chủ tịch UBND phường Hùng Vương thì nguyện vọng của bà Minh được đáp ứng. Ngày 30-5-2011, Bộ Tư lệnh Hải quân nhận được công văn của phường Hùng Vương cung cấp thông tin về ngôi mộ. Họ lập tức cử cán bộ chính sách về làm việc với chính quyền địa phương. Hai chữ “Củ Chi” như một ẩn số, đã khiến bà Minh và nhiều người hiểu quê của liệt sĩ ở TP Hồ Chí Minh nên trước đó bà đã liên lạc nhưng không có kết quả. Trái với suy nghĩ của bà Minh, Bộ Tư lệnh Hải quân cho rằng, bộ hài cốt trong ngôi mộ nhiều khả năng là của 1 trong 8 liệt sĩ chưa tìm thấy thi hài trên tàu T603. Chiếc áo có hai chữ “Củ Chi” có lẽ là do liệt sĩ đã mặc áo của đồng đội nào đó? Sau đó, Bộ Tư lệnh Hải quân đã báo cáo Bộ Quốc phòng. Bộ Quốc phòng quyết định để Viện pháp y Quân đội lấy mẫu phẩm từ hài cốt tại nghĩa trang nhân dân phường Hùng Vương và của 8 gia đình liệt sĩ thuộc tàu T603 để giám định ADN so sánh, xác định danh tính liệt sĩ. Sau đó, Viện Pháp y Quân đội đã xác định hài cốt đang được an táng tại nghĩa trang phường Hùng Vương chính xác là của liệt sĩ Dương Thành Hiến, chiến sĩ cơ điện Tàu T603, đoàn tàu Không số. Ông Thắng, cho biết, lúc nhận được thông tin này, bà Nguyễn Thị Minh cứ ngậm ngùi mãi: “Khổ thân em tôi, suốt 40 năm qua chị cứ ngỡ quê em ở mãi Củ Chi xa xôi, chứ đâu có ngờ được quê em lại gần thế này”. Sáng ngày 16-7, Lễ bàn giao hài cốt liệt sĩ Dương Thành Hiến đã được tổ chức tại UBND phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng (TP Hải Phòng). Sáng 17-7, liệt sĩ Dương Thành Hiến đã được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu (TP Hạ Long).
Được biết, lúc sinh thời, ông Dương Văn Biên và bà Đỗ Thị Gái (cha mẹ liệt sĩ Hiến) đã phải lập mộ giả ở nghĩa trang Đèo Sen để thờ. Với những người còn sống trong gia đình liệt sĩ hôm nay, niềm hy vọng vào việc tìm thấy phần mộ liệt sĩ Dương Thành Hiến là rất mong manh. Bởi vậy, họ thấp thỏm chờ đợi kết quả giám định ADN, để rồi vỡ oà hạnh phúc khi nghe công bố. Họ đã nhanh chóng hoá giải ngôi mộ giả để đến Hải Phòng, tới thăm bà Minh, nghe bà kể về hành trình của hài cốt liệt sĩ, rồi đón nhận người thân trở về trong niềm hạnh phúc khôn tả. Sự trở về kỳ diệu của liệt sĩ Dương Thành Hiến là minh chứng cho hiệu quả từ chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” của Đảng và Nhà nước và cũng là biểu tượng của tình quân dân thắm thiết. Đúng như ông Dương Mạnh Thắng đã nói trong lễ truy điệu: “Nếu không có những nghĩa cử lặng thầm mà cao cả của bà Minh, nếu không có tấm lòng của những đồng đội, đồng chí thì có lẽ mộ phần của chú Hiến, em tôi cũng đã lẫn vào biết bao ngôi mộ vô danh khác…”
Phạm Học