Năm 1993 tôi lên Lương Mông để kiểm tra việc trồng rừng sau một năm thực hiện chương trình 327 của Lâm trường Ba Chẽ. Ngày ấy con đường 330 từ phố huyện Ba Chẽ lên Lương Mông chỉ là đường đất rất khó đi, người đi bộ cũng phải luồn lách leo trèo quá vất vả chứ đừng nói gì đến ô tô hay xe máy. Chúng tôi phải theo quốc lộ 279 qua Hoành Bồ vượt đèo Hạ Mi đến đất Sơn Động (tỉnh Bắc Giang), gửi xe lại nhà người quen cách chân đèo 5 ki-lô-mét rồi cuốc bộ ngược đèo Kiếm để đến Lương Mông. Đỉnh đèo Kiếm là ranh giới hai tỉnh Quảng Ninh và Bắc Giang, cơn bão số 3 năm ấy vừa tràn qua Quảng Ninh, trời mưa tầm tã, con đường đất hòa với phân trâu bò nhão nát ra dưới chân chúng tôi. Lương Mông thưa thớt nhà dân. Cây cối tơi tả gẫy đổ ngổn ngang...
Mấy ngôi nhà cấp bốn của Lâm trường Ba Chẽ 3 nằm ngay bên con đường đất. Điện không có, anh em chúng tôi ngồi ăn cơm dưới ánh đèn dầu tù mù như thời chiến tranh. Không phải ngày chợ nên thức ăn chỉ là mấy quả đu đủ xanh ở vườn của Lâm trường bị bão vặn đứt quăng lăn lóc dưới đất. Anh Trần Năng Toàn, Giám đốc Lâm trường, nói với tôi:
- Ở Lương Mông còn nhiều khó khăn, bà con chủ yếu là tự sản tự tiêu. Anh em chúng tôi phải tăng gia rau màu để lấy cái ăn hàng ngày, lắm khi nhỡ bữa phải ăn muối là chuyện thường. Bao giờ con đường Lương Mông đi thị trấn Ba Chẽ được nối liền thì cuộc sống chắc sẽ đỡ khổ hơn...
Tôi cùng mấy anh cán bộ kỹ thuật của Lâm trường cắt rừng đi lên những cánh rừng trồng. Lứa thông chưa đầy tuổi đang lên xanh. Đất và khí hậu của Lương Mông này hợp với cây thông nên ở đây đã có những đồi thông trồng từ nhiều năm trước đang vào thời kỳ khai thác nhựa. "-Sau này, khi những rừng thông được trồng từ nguồn vốn của chương trình 327 trưởng thành và cho khai thác nhựa thì trên đất Lương Mông này chắc phải xây dựng nhà máy chế biến nhựa thông thì mới đáp ứng kịp nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu..." - Tôi nghĩ thế!
Vậy mà cũng đã mười tám năm trôi qua kể từ ngày ấy, tôi chưa có dịp trở lại Lương Mông, mặc dù trong tôi lúc nào cũng có ý nghĩ thôi thúc rằng sẽ lên thăm lại con đường trơn nhầy bùn đất với những cánh rừng thông và những công nhân lâm trường một đời cần mẫn với công việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc tại nơi này.
Dịp ấy đã đến! Trung tuần tháng 10 vừa qua, tôi cùng anh bạn nhiếp ảnh hành hương về Lương Mông trên con đường 330 dài hơn năm chục cây số từ phố huyện Ba Chẽ tới Lương Mông (chứ không phải đi theo đường 279 qua Hoành Bồ sang Bắc Giang rồi vượt đèo Kiếm để đến Lương Mông như gần hai chục năm về trước nữa). Mặt đường đã được bê tông hóa hoàn toàn. Thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp những chiếc xe chở khách ngược xuôi trên đường…
Con đường trung tâm xã giờ đã là đường bê tông với những lô nhà cao tầng san sát, không kém gì phố huyện Ba Chẽ. Lòng tôi không khỏi bâng khuâng khi nhớ về con đường lầy lội bùn đất và chuyến đi gần hai chục năm trước. Lương Mông có đường bê tông nối liền với huyện, với tỉnh, việc giao lưu thông thương thuận lợi hơn nhiều. Đường điện đèn cao áp chạy dọc phố, Lương Mông chấm dứt cảnh đèn dầu tù mù. Sóng truyền hình, điện thoại phủ kín cho tới thôn khe bản, cuộc sống của bà con nơi đây ngày một đổi thay. Chợ trung tâm của xã rộng rãi khang trang, bà con không còn cảnh tự sản tự tiêu như trước nữa… Tôi đi dọc con đường để tìm xem có còn lại chút gì của dấu tích xưa. Một phụ nữ ngồi bán hàng trước hiên nhà thấy tôi hỏi thăm về Lâm trường Ba Chẽ 3. Chị hỏi:
- Anh quen ai ở đó à?
Nghe tôi kể chuyện cũ, giọng chị buồn buồn:
- Lâm trường giải tán lâu rồi anh ạ! Giờ tan tác mỗi người một nơi…
- Rừng ngày xưa các chị trồng vẫn còn xanh cả kia thôi!
- Người ta bán rừng cho các doanh nghiệp hết rồi! Chúng em muốn nhận khoanh nuôi bảo vệ cũng chẳng được. Bây giờ anh em công nhân cũ của lâm trường ở lại đây chỉ còn chưa tới mươi người. Ai đủ chế độ thì về nghỉ, ai còn chưa đủ tuổi muốn đi làm thì phải vào tận Ba Chẽ, đi sáu bảy chục cây số mới được làm rừng...
Người đứng bên cạnh chị là anh Ý, còn chị tên là Liên; cả hai ngày trước cùng làm ở Lâm trường bộ. Mười tám năm qua rồi, tôi không sao nhớ nổi gương mặt ngày xưa của các anh, các chị. Nghe giọng nói của hai người, tôi hiểu họ đang rất buồn… Anh Ý chỉ cho tôi ngôi nhà cấp bốn tụt lùi phía sau dãy phố là chứng tích còn lại duy nhất của văn phòng lâm trường. Ngôi nhà loang lổ bị lún sâu trong đất. Mái ngói xập xệ mốc meo. Dòng chữ đắp nổi LÂM TRƯỜNG BA CHẼ III giờ chỉ còn sót lại mấy nét… Trên mảnh sân còn vài luống giống cây quế, cây thông chưa đến kỳ xuống hốc.
Thời thế, cơ chế thay đổi biết làm sao được. Rừng còn đó! Cây còn đó! Vậy mà số phận của những con người cũ bây giờ thì vẫn cứ long đong… Tôi thấy họng mình bỗng dưng đắng ngắt.
Trên đường trở về phố huyện, chúng tôi gặp các cháu học sinh Trường PTCS Lương Mông vừa tan trường. Ngôi trường khang trang quá! Nhìn dòng chữ ghi lời dạy của Bác: "VÌ LỢI ÍCH MƯỜI NĂM TRỒNG CÂY; VÌ LỢI ÍCH TRĂM NĂM TRỒNG NGƯỜI", lại chợt nghĩ về các anh, các chị công nhân Lâm trường Ba Chẽ 3 như chị Liên, chị Xuân, anh Ý và biết bao anh chị khác nữa. Tôi thầm an ủi mình:
-Thôi thì các anh các chị ấy đã làm được cái cần làm của chương trình 327; đó là phủ xanh đất trống đồi núi trọc...
Hoài Giang