Kỷ niệm 71 năm Ngày Giải phóng Vùng mỏ 25/4 (1955-2026)

Mãi khắc ghi trang sử hào hùng

Ngày 25/4/1955 trở thành dấu mốc lịch sử khi Vùng mỏ được hoàn toàn giải phóng, mở ra kỷ nguyên mới cho vùng đất phên giậu Đông Bắc. Trải qua 71 năm, giá trị lịch sử của ngày giải phóng vẫn vẹn nguyên, tiếp tục được bồi đắp và lan tỏa trong hành trình xây dựng, phát triển hôm nay. Câu chuyện về sự ra đời của giai cấp công nhân, truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”, những hy sinh to lớn cùng các chiến công vẻ vang, dấu mốc giải phóng Vùng mỏ… luôn được các thế hệ người Vùng mỏ khắc ghi, trân trọng, gìn giữ và tiếp nối.

Ngày 25/4/1955, bộ đội ta tiến vào tiếp quản Cẩm Phả, Hòn Gai trong sự chào đón của người dân Vùng mỏ. Ảnh tư liệu
Ngày 25/4/1955, bộ đội ta tiến vào tiếp quản Cẩm Phả, Hòn Gai trong sự chào đón của người dân Vùng mỏ. Ảnh tư liệu

Vùng mỏ bất khuất

Theo các tài liệu lịch sử, từ cuối thế kỉ XIX, trong tiến trình xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã tiến hành khảo sát, thăm dò tại Vùng mỏ và quyết định thiết lập bộ máy thống trị và quân sự ở đây, ra sức vơ vét tài nguyên than đá. Người Pháp nhanh chóng xây dựng những công trình hạ tầng, như: Nhà điều hành, biệt thự cai ký, nhà máy sàng rửa than, cầu tàu... trở thành cơ sở công nghiệp có quy mô lớn đầu tiên trên toàn phạm vi khu vực Đông Dương. Lực lượng công nhân mỏ ngày càng đông đảo, họ xuất thân từ nhiều vùng miền khác nhau, sống đoàn kết, quần tụ thành các xóm thợ, lán thợ, làng công nhân, khu phố thợ...

Cảnh công nhân vào ca làm việc tại mỏ than Hòn Gai khi thực dân Pháp đô hộ. (Nguồn Flick-Mạnh Hải)
Cảnh công nhân vào ca làm việc tại mỏ than Hòn Gai khi thực dân Pháp đô hộ. (Nguồn Flick-Mạnh Hải)

Lời kể của những nhân chứng lịch sử đều khẳng định rằng thợ mỏ lúc bấy giờ phải làm việc mỗi ngày trong môi trường vô cùng khổ cực, lầm than, liên tục chịu đựng cúp phạt, đòn roi, ăn đói mặc rét... Mỗi mỏ than lại là một bộ máy bạo lực, có hệ thống mật thám dày đặc, hoạt động cả công khai, cả trá hình. Chính sách khai thác, bóc lột thuộc địa tàn bạo của thực dân Pháp đã vắt kiệt sức lao động của những người thợ mỏ, bần cùng hóa người nông dân, biến họ thành những người vô sản. Hoàn cảnh ấy buộc những người thợ phải đoàn kết, đồng tâm thành một khối thống nhất để cộng hưởng sức mạnh đấu tranh, chống lại ách áp bức hà khắc của thực dân và tay sai. Từ bối cảnh ấy, Vùng mỏ Quảng Ninh đã trở thành một trong những cái nôi đầu tiên sản sinh ra giai cấp công nhân Việt Nam.

Cuối tháng 2/1930, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của Quảng Ninh được thành lập ở Mạo Khê. Đến tháng 10/1930, Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Đặc khu Hòn Gai. Từ đó, nhiều đồng chí lãnh đạo xuất sắc của Đảng được cử về Vùng mỏ, làm nhiệm vụ lãnh đạo và gây dựng phong trào đấu tranh cách mạng trong đội ngũ công nhân và nhân dân lao động. Tiêu biểu là cuộc Tổng bãi công của hơn 3 vạn công nhân mỏ nổ ra ngày 12/11/1936 đã giành thắng lợi, vẫn buộc chủ mỏ phải nhượng bộ một phần yêu sách về tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao động. Lý tưởng, phương pháp đấu tranh của giai cấp công nhân Vùng mỏ có sự trưởng thành rõ rệt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề cho những thắng lợi sau này. Nhà máy, hầm mỏ cũng trở thành chiến trường, nhất là góp phần làm suy yếu, sụp đổ kế hoạch vận chuyển than phục vụ chiến tranh của thực dân Pháp.

Vùng mỏ được quân và dân ta tiếp quản, người dân được làm chủ cuộc đời và vùng đất quê hương. Ảnh tư liệu
Vùng mỏ được quân và dân ta tiếp quản, người dân được làm chủ cuộc đời và vùng đất quê hương. Ảnh tư liệu

Hiệp định Giơ-ne-vơ ký ngày 21/7/1954, quân đội Pháp buộc phải rút khỏi miền Bắc trong vòng 300 ngày. Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên hầu hết nằm trong khu vực tập kết 100 ngày và 300 ngày trước khi Pháp hoàn thành việc rút toàn bộ quân đội khỏi Việt Nam. Bọn chủ mỏ thực dân Pháp sợ hãi, hối hả vơ vét của cải để mang theo xuống tàu về nước, di dời các máy móc thiết bị; đồng thời ra sức tuyên truyền những luận điệu dụ dỗ, cưỡng ép người dân di cư vào miền Nam; chỉ đạo bọn phản động, tay sai tăng cường khủng bố, phá hoại... Dưới sự chỉ đạo của Đặc khu ủy Hòn Gai, công nhân ở khắp nơi đã tổ chức các đội bảo vệ máy móc, thiết bị, hoàn thành thắng lợi mục tiêu bảo toàn để tiếp tục duy trì sản xuất ngay sau ngày tiếp quản.

Trưa ngày 25/4/1955, khi tên lính cuối cùng bước lên tàu rút về nước, người dân xung quanh ùa ra, vẫy cờ, hoa hô vang “Ủng hộ Việt Minh”. Ngày 25/4/1955 đã trở thành mốc son chói lọi, là ký ức không quên, đầy tự hào của hàng ngàn người dân, người thợ Vùng mỏ và cả những đội quân được vinh dự vào tiếp quản.

Kinh tế, xã hội nhanh chóng ổn định, khôi phục là điều kiện thuận lợi để Vùng mỏ hăng hái chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, thống nhất đất nước.

Nội dung thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Hồng Quảng đăng trên báo Nhân Dân.
Nội dung thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Hồng Quảng đăng trên báo Nhân Dân.

Những di tích “kể” chuyện lịch sử

71 năm kể từ ngày được giải phóng, kế thừa truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”, các thế hệ cán bộ, quân và dân Vùng mỏ Quảng Ninh đã luôn đoàn kết gắn bó, vượt qua khó khăn, đạt được những thành tựu tiên phong và đột phá. Trân trọng quá khứ, tỉnh luôn quan tâm bảo tồn các di tích lịch sử - là minh chứng chân thực nhất về trang sử hào hùng của vùng đất anh hùng. Một trong số đó phải để đến bến phà Bãi Cháy, được ra đời từ thời điểm tàu chiến của hải quân Pháp tiến vào vụng Cửa Lục năm 1883, mở đầu cho 72 năm chiếm đóng và khai thác than tại Vùng mỏ. Từ đó cho đến suốt giai đoạn Quảng Ninh chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bến phà đã “chứng kiến” bao sự kiện lịch sử, góp phần vào huyết mạch giao thông của Vùng mỏ.

Dù đã dừng hoạt động, bến phà nối liền hai bờ Bãi Cháy - Hòn Gai năm xưa luôn là một địa danh in sâu trong ký ức của người dân Vùng mỏ.
Dù đã dừng hoạt động, bến phà nối liền hai bờ Bãi Cháy - Hòn Gai năm xưa luôn là một địa danh in sâu trong ký ức của người dân Vùng mỏ.

Một di tích cần phải kể đến Khu di tích và danh thắng Vũng Đục, nơi gắn liền với câu chuyện về những chiến sĩ cách mạng đã ngã xuống cho sự nghiệp giải phóng Vùng mỏ; là bài học khắc sâu về lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh anh dũng quật cường của cha ông. Trong những năm 1948-1949, thực dân Pháp đã bắt hàng trăm đoàn viên công đoàn, thanh niên cứu quốc và những người dân khu mỏ yêu nước. Nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt, tra tấn, đánh đập, bức cung... mà vẫn không khuất phục. Chúng đã hèn hạ thủ tiêu họ bằng cách dùng dây thép xâu tay, nhét họ vào bao tải buộc đá hộc, dùng thuyền chở ra Vũng Đục và dìm sống họ xuống biển. Ngày nay, một đài tưởng niệm được xây dựng tại khu vực này để nhân dân và du khách tìm về trong những chuyến hành trình lịch sử, ôn lại trang sử hào hùng của Vùng mỏ năm nào.

Tượng đài ở Khu di tích Vũng Đục (phường Cẩm Phả) tôn vinh tinh thần bất khuất của các chiến sĩ cách mạng Vùng mỏ.
Tượng đài ở Khu di tích Vũng Đục (phường Cẩm Phả) tôn vinh tinh thần bất khuất của các chiến sĩ cách mạng Vùng mỏ.

Để đặt bộ máy cai trị và khai thác mỏ, các chủ mỏ Pháp đã xây dựng nhiều công trình như nhà ở, nhà làm việc, nhà máy, khu điều hành sản xuất... trên khắp các vùng miền của tỉnh. Hiện nay, số công trình kiến trúc này còn lại không nhiều, hầu hết vẫn được các địa phương, đơn vị, cơ quan chủ quản bảo tồn và tiếp tục sử dụng phát huy công năng. Như Khu nhà lưu niệm Vùng than Cẩm Phả hiện nằm trong khuôn viên của Trường CĐ Nghề Than - Khoáng sản Việt Nam. Công trình vốn là nơi ở và làm việc của Vavasseur - viên quan đại lý người Pháp có chức vụ cao nhất ở Cẩm Phả lúc bấy giờ; đồng thời là trụ sở làm việc của các quan Pháp, chủ mỏ cùng một số quan chức, sếp đội người Việt phục vụ cho chính quyền thuộc địa. Khi Vùng mỏ được giải phóng, khu nhà này là trụ sở Văn phòng Thị ủy Cẩm Phả, sau đó là trụ sở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị rồi mới chuyển cho Trường CĐ Nghề Than - Khoáng sản Việt Nam quản lý và sử dụng, hình thành Khu nhà lưu niệm Vùng than Cẩm Phả như ngày nay.

Trụ sở Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ năm xưa, giờ là Trung tâm điều hành sản xuất tại Quảng Ninh của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV).
Trụ sở Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ năm xưa, giờ là Trung tâm điều hành sản xuất tại Quảng Ninh của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Ngoài ra còn có Trụ sở Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ, được xây dựng năm 1888, hiện là Trung tâm điều hành sản xuất tại Quảng Ninh của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) nằm trên đường Lê Thánh Tông, phường Hồng Gai. Hay như ngôi biệt thự hiện đang nằm trong khuôn viên trụ sở của Công ty Than Uông Bí, vốn được xây dựng vào khoảng những năm 1910, để làm nơi ở cho các chủ mỏ. Tòa nhà trụ sở UBND phường Quảng Yên ngày nay thì vốn là toà nhà hành chính của dinh tỉnh trưởng Quảng Yên xưa xây dựng cùng thời với trụ sở làm việc của chủ mỏ Pháp...

Căn nhà kiến trúc Pháp hiện nằm trong khuôn viên trụ sở Công ty Than Uông Bí - TKV.
Căn nhà kiến trúc Pháp hiện nằm trong khuôn viên trụ sở Công ty Than Uông Bí - TKV.

Từ những ngày gian khổ, lầm than dưới đêm trường đô hộ cho đến ngày được hoàn toàn giải phóng là chặng đường lịch sử không thể nào quên của Vùng mỏ. Truyền thống năm xưa đã và sẽ luôn được các thế hệ kế thừa, tiếp nối trong thời kỳ mới.

Mãi khắc ghi trang sử hào hùng ảnh 11

Ông Đinh Xuân Thinh, 61 năm tuổi Đảng, thôn Trại Giữa, xã Đầm Hà: “Quê hương Quảng Ninh đã từng bước kiên cường đi lên, có nhiều đổi mới vượt bậc”

Trải qua nhiều khó khăn, thử thách, quê hương Quảng Ninh đã từng bước kiên cường đi lên, có nhiều đổi mới vượt bậc về mọi mặt. Nhất là trong vài năm gần đây, diện mạo từ đô thị đến nông thôn đều khang trang, tươi đẹp hơn; cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại; kinh tế, văn hoá, xã hội ngày một phát triển. Đó là thành quả có được từ công lao, trí tuệ của nhiều thế hệ đi trước và cũng đặt trọng trách gánh vác, tiếp nối của những bạn trẻ tài giỏi, sáng tạo hôm nay. Mong rằng nhân dân từ các thôn, khu phố, các xã, phường, đặc khu toàn tỉnh sẽ luôn giữ vững tinh thần đoàn kết, đồng lòng, nhất trí trong chặng đường phát triển toàn diện của tỉnh ta.

Mãi khắc ghi trang sử hào hùng ảnh 12

Đại tá Đàm Huy Đắc, Chủ tịch Hội CCB tỉnh Quảng Ninh: "Công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ luôn đóng vai trò quan trọng"

Chiến tranh đã lùi xa, nền hòa bình độc lập đã tạo nền tảng cho Vùng mỏ cùng cả nước phát triển trong kỷ nguyên mới. Tôi cho rằng, dù trong bối cảnh nào, công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ cũng luôn đóng vai trò quan trọng, là trách nhiệm của tất cả các cấp, ngành, tổ chức chính trị, đoàn thể. Khi các bạn trẻ có hiểu biết đầy đủ, đúng đắn về lịch sử, họ sẽ càng biết trân trọng giá trị của hòa bình; hình thành lý tưởng sống, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội; tiếp nối truyền thống vẻ vang của lớp thế hệ cha anh. Lực lượng CCB Quảng Ninh hôm nay càng phải có trách nhiệm phát huy phẩm chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, là tấm gương sáng truyền động lực cho ĐVTN.

Mãi khắc ghi trang sử hào hùng ảnh 13

Chị Nguyễn Thị Phương Thảo, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ, Bí thư Đoàn Thanh niên phường Mông Dương: “Nỗ lực hết mình để xứng đáng là công dân trẻ của Vùng mỏ anh hùng”.

Thế hệ chúng tôi may mắn vô cùng khi được sinh ra và lớn lên trong thời điểm Quảng Ninh đang cùng cả nước vươn lên từng ngày. Và tôi tin rằng, rất nhiều bạn trẻ cũng nhận thức sâu sắc trách nhiệm, sứ mệnh thiêng liêng phải tiếp nối ngọn lửa cách mạng mà các thế hệ cha anh đã trao truyền. Bằng những nỗ lực phấn đấu trong học tập, lao động, sáng tạo, thế hệ trẻ sẽ nêu cao tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, nỗ lực hết mình để xứng đáng là công dân trẻ của Vùng mỏ anh hùng.

Mãi khắc ghi trang sử hào hùng ảnh 14

Cô giáo Nguyễn Thị Thúy Toàn, Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Bình, phường Đông Triều: “Truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” trở nên sống động qua từng bài giảng lịch sử”.

Đối với tập thể thầy và trò trường Nguyễn Bình, môn lịch sử được nhiều học sinh yêu thích bởi những tiết học thú vị, cùng những hoạt động ngoại khóa đầy sáng tạo. Tôi luôn tâm niệm rằng, hiểu biết lịch sử không chỉ đơn thuần là ghi nhớ một vài mốc sự kiện, một vài tên địa danh, con người trong quá khứ, mà còn để đúc rút những bài học cho bản thân, khơi dậy lòng biết ơn với thế hệ cha anh. Truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” trở nên sống động qua từng bài giảng lịch sử, sẽ góp phần giúp các em hình thành lý tưởng, thái độ sống đúng đắn, có trách nhiệm; thêm tự hào, bồi dưỡng tình yêu quê hương để sau này tiếp tục nỗ lực cống hiến.

Cùng chuyên mục