Chỉ với vài thao tác trên điện thoại, du khách có thể mua vé, quét mã vào Bảo tàng tỉnh, nghe thuyết minh tự động, khám phá hiện vật 3D, trải nghiệm di sản bằng công nghệ thực tế ảo hoặc tra cứu học liệu số, những trang sách quý... Từ đó, không gian văn hóa đang từng bước vượt khỏi giới hạn truyền thống để hiện diện rộng hơn trên môi trường số.
Trong bối cảnh ấy, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, xây dựng và kết nối dữ liệu trở thành yêu cầu tất yếu đối với các thiết chế văn hóa. Quảng Ninh đã triển khai phát triển không gian văn hóa số trên nhiều phương diện. Toàn tỉnh hiện có khoảng 609 di tích, cụm di tích và 362 di sản văn hóa phi vật thể. Đến hết năm 2025, đã hoàn thành số hóa 17 di sản văn hóa vật thể và 7 di sản phi vật thể; đồng thời cập nhật hồ sơ, số hóa ảnh khảo tả, bản vẽ kỹ thuật phục vụ quản lý, nghiên cứu.
Không gian văn hóa số đang dần hiện diện ở cơ sở và trong các cuộc trưng bày với nhiều cách tiếp cận linh hoạt. Tại Nhà trưng bày không gian văn hóa người Dao Thanh Y (phường Yên Tử), tư liệu về đời sống, phong tục, trang phục được số hóa và giới thiệu qua màn hình cảm ứng, giúp người xem dễ tiếp cận thông tin, hình ảnh, video. Ở Yên Tử, công nghệ 3D, VR360 và mã QR hỗ trợ tái hiện không gian, cung cấp thuyết minh. Những công nghệ này cũng được triển khai tại Khu di tích Chiến thắng Bạch Đằng, Khu di tích nhà Trần (Đông Triều) và vịnh Hạ Long.
Ở một số điểm di tích, nhà trưng bày cấp huyện, xã, việc ứng dụng mã QR, video tư liệu, hình ảnh số hóa cũng đang từng bước được triển khai, góp phần làm phong phú nội dung giới thiệu. Đối với các triển lãm lớn, công nghệ được ứng dụng sâu, tạo trải nghiệm trực quan mới. Tại di tích, không gian văn hóa số mở rộng sang trưng bày, giáo dục và truyền thông. Các giải pháp như 3D mapping, VR/VR360, AI, hologram, mã QR, màn hình tương tác và dữ liệu đa phương tiện giúp tái hiện sinh động lịch sử, tăng tương tác, tiếp cận gần gũi hơn với công chúng, nhất là người trẻ.
Trong bức tranh chung ấy, Bảo tàng và Thư viện tỉnh là hai thiết chế tiêu biểu trong chuyển dữ liệu thành không gian văn hóa. Ông Đỗ Quyết Tiến, Giám đốc Bảo tàng - Thư viện tỉnh, cho biết: Đơn vị đang tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống quản trị nội dung số, nhằm nâng cao quản lý và giúp công chúng tiếp cận di sản trực quan hơn.
Tại Bảo tàng Quảng Ninh, nền tảng số hóa đã được hình thành tương đối rõ nét. Đơn vị đã số hóa hơn 10.000 trong tổng số hơn 25.000 tư liệu, hiện vật đăng ký quản lý; tích hợp 7.120 tư liệu, hiện vật lên phần mềm quản lý của Cục Di sản văn hóa. Hơn 550 hiện vật được xây dựng mô hình 3D và đưa vào bảo tàng ảo. Toàn bộ 12 bảo vật quốc gia đang lưu giữ tại Bảo tàng cùng một phiên bản tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông cũng đã được số hóa. Thời gian tới, khoảng 7.500 hiện vật tiếp tục số hóa, hoàn thiện dữ liệu và nâng cao trải nghiệm.
Không dừng ở tạo lập dữ liệu, công nghệ được ứng dụng xuyên suốt tham quan: Bán vé trực tuyến, mã QR, thanh toán không tiền mặt, thuyết minh song ngữ. VR, AR và bảo tàng ảo giúp quan sát hiện vật đa góc độ, gắn bối cảnh lịch sử, biến bảo tàng thành không gian giáo dục linh hoạt.
Nếu bảo tàng số mở rộng ký ức bằng hiện vật, thư viện số mở rộng tri thức bằng tài liệu. Bảo tàng - Thư viện tỉnh quản lý gần 250.000 tài liệu, 89.446 biểu ghi và 18.813 thẻ bạn đọc; đã số hóa 925 tài liệu địa chí (292.346 trang), đạt khoảng 41%. Thư viện còn thuê quyền truy cập hơn 2 triệu tài liệu số, triển khai mục lục trực tuyến, mã QR và dịch vụ từ xa. Năm 2025, tài nguyên số ghi nhận hơn 100.000 lượt truy cập, cho thấy khả năng đưa tri thức đến người đọc mọi lúc, mọi nơi.
Những kết quả bước đầu cho thấy, số hóa không chỉ hỗ trợ bảo tồn mà còn mở rộng tiếp cận, phục vụ nghiên cứu, giáo dục và du lịch. Tuy nhiên, phạm vi số hóa vẫn còn hạn chế, mức độ ứng dụng chưa đồng đều. Bởi vậy, phát triển không gian văn hóa số cần được nhìn nhận toàn diện, từ chuẩn hóa và khai thác dữ liệu đến đầu tư hạ tầng và nhân lực, để di sản và tri thức lan tỏa sâu rộng hơn trong cộng đồng.